Hiển thị các bài đăng có nhãn TIN TỨC-SỰ KIỆN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TIN TỨC-SỰ KIỆN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 29 tháng 5, 2010

Bí quyết của những phụ nữ có thu nhập cao nhất thế giới

(Dân trí) - Họ là những phụ nữ quyền lực và tài năng với mức lương cao ngất ngưởng. Đâu là bí quyết? Hãy lắng nghe họ chia sẻ.
1. Luôn luôn là chính mình
Indra Nooyi, Tổng Giám đốc Điều hành người Ấn của Tập đoàn PepsiCo luôn mặc trang phục truyền thống sari của nước mình khi tham dự các buổi phỏng vấn xin việc. Và ngay cả khi đang ở vị trí quản lý cấp cao, bà vẫn thường mặc trang phục này trong các sự kiện của công ty.

2. Tên chính là thương hiệu của bạn - hãy giữ gìn
"Tôi rất cẩn trọng với thương hiệu. Những cái bình nào có ghi tên tôi - chắc chắn đều do tôi chính tay thiết kế. - Đầu bếp có mức lương “xịn”nhất thế giới, Rachael Ray cho biết.

3. Đừng tốn sức đôi co với những người không ưa bạn
“Tôi không thể buộc mọi người yêu quý tất cả những việc tôi làm”. - Nữ ca sĩ thù lao bạc triệu Beyoncé Knowles thổ lộ.

4. Đảm bảo người đàn ông của bạn ủng hộ bạn và thành công trong sự nghiệp của bạn
“Mỗi ngày sau những cuộc họp triền miên, tôi về nhà và nói với anh ấy rằng, “Xin lỗi, em về trễ”, và thế là chồng tôi trừng mắt nhìn tôi... Cũng may là người chồng thứ hai thấu hiểu cho tôi nhiều hơn - Sallie Krawcheck, người phụ nữ có thu nhập hàng đầu tại phố Wall, chia sẻ.

5. Định vị bản thân cho phù hợp với công việc mà bạn mong muốn
“Trong quá trình tập luyện vươn lên vị trí hàng đầu trong làng tennis, tôi không bao giờ động viên mình theo kiểu tôi sẽ có thể đứng ở vị trí thứ hai. Tôi nói với chính mình - tôi muốn là người dẫn đầu” - Vận động viên Maria Sharapova cho biết.

Đường vào tù của các tỷ phú

Thành đạt và giàu có nhưng họ vẫn phải vào tù vì những cáo buộc kiếm tiền bằng các hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, tham nhũng.
1. Wong Kwong Yu
Tỷ phú Trung Quốc Wong Kwong Yu (còn được gọi là Huang Guangyu) bị kết án 14 năm tù trong một phiên tòa diễn ra vào tuần trước. Ông này bị bắt giữ từ năm 2009 với tội danh giao dịch trái phép và hối lộ quan chức 600.000 USD. Wong là người sáng lập hãng bán lẻ đồ điện tử Gome Electrical Appliances. Ông từng đứng thứ 2 trong danh sách những người giàu nhất Trung Quốc với tài sản 2,7 tỷ USD hồi tháng 10/2008. Chỉ một tháng sau đó, tỷ phú này đã bị kết tội giao dịch nội gián và thao túng thị trường chứng khoán. Trong thời gian điều tra tính đến tháng 2 vừa rồi, ông không phải ngồi tù. Cái tên Huang Guangyu nay đã bị xóa sổ khỏi danh sách tỷ phú Trung Quốc. Ảnh: news.com

2. R. Allen Stanford
R. Allen Stanford từng được cho là có tài sản 2,2 tỷ USD. Hiện nay, tỷ phú này bị buộc tội điều hành một đường dây lừa đảo đa cấp trị giá 8 tỷ USD thông qua ngân hàng Stanford International Bank do ông sở hữu. Ông bị kết tội và bị giam giữ từ năm ngoái cho đến tháng 9 vừa rồi, Allen Stanford phải vào viện vì đánh nhau với một bạn tù khác. Từ nhà giam Texas, Stanford đã gửi đơn kháng án, cho rằng mình vô tội. Phiên tòa xét xử chính thức sẽ diễn ra vào năm tới và 21 cáo buộc đang chờ đợi nhà đầu tư này. Ảnh: AP
3. Mikhail Khodorkovsky
Vào tháng 10/2003, điện Kremlin yêu cầu bắt giữ khẩn cấp tỷ phú Nga Khodorkovsky với tội danh tham ô. Nhà tài phiệt ngành dầu mỏ này từng khởi nghiệp từ ngành ngân hàng và buôn bán hàng hóa trong thập niên 90. Bằng tài năng, thủ đoạn và cả những nhân tố "thiên thời" của thời kỳ hỗn loạn đó, Mikhail Khodorkovsky lập nên hãng dầu mỏ Yukos, nhanh chóng trở thành "trùm" trong lĩnh vực này. Trước khi bị bắt, Mikhail Khodorkovsky được xem là người giàu nhất nước Nga, với tài sản trị giá 15 tỷ USD. Ảnh: AFP
4. Platon Lebedev
Platon Lebedev từng là đối tác làm ăn của cựu tỷ phú Khodorkovsky kể trên và bị bắt trước Khodorkovsky 4 tháng. Ông này cũng bị bắt với tội danh tham ô và hiện vẫn chưa được ra tù. Ảnh: newscom
5. Calisto Tanzi
Năm 1961, Calisto Tanzi (Italy) sáng lập hãng sữa Parmalat và bỏ công sức xây dựng nó thành công ty sữa tư nhân lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, chính ông lại là người đã biển thủ tới 800 triệu euro từ Parmalat, đẩy nó xuống bờ vực phá sản. Vụ phá sản diễn ra hồi 2003 được xem là "Enron của Italy". Sau 3 năm kể từ ngày bị cáo buộc, đến 2008 ông này được đưa ra xét xử chính thức với hình phạt 10 năm tù giam. Hồi tháng 12/2009, cảnh sát đã sung công bộ sưu tập tác phẩm nghệ thuật của Tanzi, có trị giá lên tới 100 triệu USD. Ảnh: AFP
6. Thaksin Shinawatra
Hồi 2006, cựu Thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra bị phe đối lập hạ bệ sau 5 năm cầm quyền với tội danh tham nhũng. Thay vì chấp hành hình phạt 2 năm tù giam, ông đã bỏ trốn ra nước ngoài. Kể từ đó đến nay, lực lượng ủng hộ ông ở Thái Lan đã không ngừng gây ra các cuộc biểu tình, bạo động với cấp độ ngày càng tăng. Các vụ đụng độ leo thang trong 2 tháng qua đã khiến ít nhất 88 người chết. Hiện Thaksin bị cáo buộc thêm tội khủng bố và với tội danh này, ông sẽ bị xử tử nếu bị bắt, thay cho mức án chỉ 2 năm tù vì tham nhũng hồi 2006. Trong khi máu tiếp tục đổ ở Thái Lan, vị cựu Thủ tướng vẫn dành phần lớn thời gian vi vu Dubai và London. Cho đến nay, chính quyền Thái đã niêm phong ít nhất 2 tỷ USD trong khối tài sản của tỷ phú này. Ảnh: AFP
7. Joaquim Guzman Loera
Joaquín Guzmán Loera là trùm ma túy Mexico, người điều hành cả một đường dây buôn ma túy xuyên quốc gia. Hắn cũng là nguồn cung cấp cocain chủ yếu cho toàn nước Mỹ, nổi tiếng với việc vận chuyển ma túy qua biên giới bằng các đường hầm. Người ta ước tính Joaquín Guzmán Loera đã thu được ít nhất 1 tỷ USD nhờ làm ăn phi pháp.
Đến năm 1993, El Chapo (một biệt danh của Joaquín Guzmán Loera, nghĩa là Thằng lùn) bị bắt với tội danh giết người và buôn ma túy. 8 năm sau đó, hắn vượt ngục thành công. Kể từ đó đến nay, Chính phủ Mỹ, Mexico và cả Interpol đều phát lệnh bắt giữ El Chapo nhưng đều chưa có kết quả. Người ta đang treo thưởng 5 triệu USD cho ai bắt được tên trùm ma túy này. Ảnh: AP
8. Kemal Uzan và con trai
Hồi tháng 4 vừa rồi, Cem Uzan (trong ảnh), con trai của tỷ phú Thổ Nhĩ Kỳ Kemal Uzan đã bị bắt giữ với hàng loạt tội danh, từ lừa đảo đến hối lộ. Tuy nhiên, Cem Uzan trốn chạy sang Pháp để tránh bản án 23 năm tù. Cả tỷ phú Kemal Uzan, cha của hắn cùng với một người con trai khác cũng bị đưa vào diện tình nghi. Hiện nhà Uzan bị gạch tên ra khỏi danh sách tỷ phú Thổ Nhĩ Kỳ do Chính phủ nước này đã tịch thu hơn 200 công ty do họ sở hữu, trong nỗ lực thu hồi khoản nợ 5,9 tỷ USD. Ảnh: AFP
9. A. Alfred Taubman
Hồi 2004, cựu Chủ tịch của nhà đấu giá Sotheby's đã phải bóc lịch 9 tháng trong tù do bị cáo buộc dàn xếp một cuộc đấu giá. Mặc dù vậy, từ trước đến nay ông này luôn khăng khăng rằng mình vô tội. Sau khi ra tù, ông tiếp tục sống cuộc sống vương giả của một tỷ phú với món tài sản 1,5 tỷ USD. Ảnh: AP
10. Chey Tae-Won
Hồi 2003, Chủ tịch của SK Group, tập đoàn lớn thứ 3 Hàn Quốc về giá trị tài sản đã bị cáo buộc gian lận kế toán. Sau 7 tháng tạm giam, ông được tạm tha và quay lại vị trí điều hành tập đoàn. Đến năm 2008, Chey Tae-Won đã được ký lệnh ân xá. Hai tỷ phú Hàn Quốc khác cũng từng thoát án tù nhờ lệnh ân xá là Chủ tịch Hyundai Motor, ông Chung Mong-Koo và người giàu nhất Hàn Quốc Lee Kun-Hee. Ảnh: AFP
11. Martha Stewart
Từng là một trong những phụ nữ giàu nhất thế giới, Martha Stewart "gặp hạn" khi phải bóc lịch 5 tháng hồi 2004, liên quan đến những lùm xùm quanh vụ bán chứng khoán hồi 2001. Ban đầu, sự cố ngồi tù này không ảnh hưởng đến tài sản của bà. Thậm chí cổ phiếu của công ty Martha Stewart Living Ominimedia do bà sở hữu còn tăng giá gấp đôi trong thời gian Martha Stewart ngồi tù. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán bắt đầu lao dốc cùng với thời điểm bà được thả ra và do đó, cho đến nay bà vẫn chưa có tên trong danh sách tỷ phú Mỹ. Ảnh: NY Daily News
Thanh Bình

Những tổng thống nghèo nhất Mỹ


Những tổng thống nghèo nhất Mỹ

Các tổng thống này từng là những nhà đầu tư, kinh doanh, chủ đồn điền bị phá sản và phải bán hết nhà cửa, đồ đạc. Nhiều người đến chết vẫn chưa trả hết nợ.

Dưới đây là danh sách những tổng thống nghèo nhất của Mỹ do tờ 24/7 Wall St. thống kê.


Harry S. Truman (nhiệm kỳ 1945-1953):

Số phận của Truman được coi là thê thảm nhất trong số các tổng thống nghèo. Cả đời ông phải chịu cảnh nghèo khó. Khi còn trẻ, ông vay mượn tiền và đầu tư vào việc khai thác một mỏ kẽm, nhưng mỏ hoạt động không thành công. Sau đó, ông làm một số công việc tay chân. Số tiền ít ỏi kiếm được cũng khó nuôi sống nổi gia đình.

Nhưng thảm họa thực sự là khi cửa hàng quần áo ông chung vốn với bạn phá sản vì giảm phát. Truman mất 30.000 USD tiền đầu tư. Trong những năm đầu của sự nghiệp, Truman cày để trả nợ và khi bắt đầu nhiệm kỳ thượng nghị sĩ thì ông vẫn còn nợ hàng nghìn USD. Tình trạng tài chính đáng buồn của Truman là một phần lý do khiến lương tổng thống Mỹ được tăng lên gấp đôi. Truman và vợ cũng là hai người đầu tiên nhận trợ cấp Medicare sau khi Tổng thống Lyndon Johnson ký thành luật.


William McKinley (nhiệm kỳ 1897-1901):

Trong phần lớn cuộc đời, tình trạng tài chính của McKinley khá ổn định, tuy nhiên cuộc suy thoái kinh tế năm 1893 khiến công ty tôn mạ thiếc ông đầu tư với bạn phá sản. Số nợ của McKinley lên tới 130.000 USD. McKinley phải nài nỉ vài người bạn quản lý tài sản và thanh lý đồ đạc của ông. Những người này đã quyên góp tiền để giúp ông trả nợ.



Ulysses Simpson Grant (nhiệm kỳ 1869-1877):

Grant có một sự nghiệp ngắn ngủi nhưng vinh quang. Ông không bao giờ kiếm được nhiều tiền nhưng thường vẫn sống rất phong lưu. Đặc biệt là sau khi kết thúc thời gian làm tổng thống, ông và vợ còn đi chu du vòng quanh thế giới, ăn tối với quan chức nước ngoài và ở trong các khách sạn sang trọng.

Năm 1881, con trai của Grant, Buck, thuyết phục cha cho 100.000 USD để đầu tư với bạn là Ferdinand Ward. Tuy nhiên, sau đó Ward đã biển thủ tài sản của Grant. Khi công ty phá sản, Ward vào tù, còn Grant phải gánh hàng trăm nghìn USD tiền nợ. Chỉ sau khi ông chết, việc những hồi ký về cuộc nội chiến của ông được xuất bản, bán được gần nửa triệu USD, mới giúp gia đình giảm gánh nặng tài chính.



Abraham Lincoln (nhiệm kỳ 1861-1865):

Lincoln là một chàng trai trẻ tham vọng nhưng nghèo. Khi ngoài 20 tuổi, anh mua một cửa hàng bách hóa với một người bạn và một đối tác. Trước khi cửa hàng phá sản, anh đã bán hết cổ phần. Tuy nhiên, người cộng tác với anh chết ngay sau đó và Lincoln buộc phải nhận phần nợ. Anh bị chủ nợ kiện ra tòa và mất toàn bộ tài sản: kể cả con ngựa và những thiết bị trắc địa. Sự nghiệp luật sư sau đó mới giúp Lincoln thoát khỏi cảnh vô sản.



William Henry Harrison (nhiệm kỳ 1841):

Khi làm đại sứ Mỹ tại Colombia vào khoảng 1829-1830, Harrison buộc phải quản lý trang trại của ông từ nước ngoài. Tuy nhiên, thời tiết đã khiến mùa màng bị phá hoại. Khi ông trở về nước, các chủ nợ kéo đến đòi tiền khi Harrison. Ngoài gánh nặng riêng, ông còn phải gánh thêm cho con trai cũng nợ một khoản đáng kể. Harrison dành phần lớn thời gian sau khi trở về Mỹ để giải quyết chuyện tài chính. Ông buộc phải bán hầu hết số đất của mình. Cho đến thời điểm bước chân vào Nhà Trắng, ông được cho là vẫn mắc nợ. Cáí chết bất ngờ của ông, một tháng sau khi nhậm chức, được cho là thứ duy nhất giải thoát cho ông.



James Monroe (nhiệm kỳ 1817-1825):

Vào cuối đời, Monroe phải làm đơn xin Quốc hội giảm bớt một phần nợ của gia đình và được chấp nhận một khoản là 30.000 USD. Số tiền này không đủ và ông buộc phải bán căn nhà ở Paris và khoảng 1.400 hecta đất. John Quincy Adams từng viết về Monroe như sau: "Monroe từng liên tục gặp những may mắn lớn, chưa bao giờ phải đối mặt với bất cứ biến cố nào. Ông đã có một sự nghiệp vẻ vang, được thưởng về tiền nhiều hơn bất cứ người nào kể từ khi lập quốc. Con người này giờ đây đang chết dần chết mòn, ở tuổi 72, trong sự khốn khó và bần hàn".



James Madison (nhiệm kỳ 1809-1817):

Madison gặp khó khăn với đồn điền của mình. Việc kinh doanh nông nghiệp thỉnh thoảng sinh lợi nhưng cuối cùng thì nó lại khiến ông mất hết tiền. Ông còn phải gánh nợ thêm cho đứa con trai riêng, một tay đánh bạc. Maddison phải bán một nửa đồn điền để trả nợ.



Thomas Jefferson (nhiệm kỳ 1801-1809):

Dù có lối sống rất khoa trương, Jefferson vay nợ trong suốt cuộc đời mình. Ông còn kế thừa một khoản nợ từ cha vợ. Nguồn thu nhập chính từ đồn điền không đủ. Việc quản lý yếu kém cùng với sự lên xuống của giá cả khiến Jefferson lỗ nặng. Cho đến cuối cuộc đời, ông nợ nhiều đến nỗi phải đệ đơn lên bang Virginia xin bán đấu giá đất của ông, nhưng bang từ chối. Sau khi ông chết, bất động sản cũng ông mới được đấu giá và con gái của ông thì phải sống nhờ từ thiện.



Hải Minh (Ảnh: Huffintonpost

Thứ Ba, 9 tháng 3, 2010

Google qua mặt Coke trở thành thương hiệu có giá trị lớn thứ 2 thế giới


Google đã trở thành thương hiệu có giá trị lớn thứ 2 thế giới, chỉ sau Wal-Mart, và đã đánh bại Coca-Cola khỏi vị trí thứ 2, theo Brand Finance.

Androidmarket1.jpg

Google đã nhảy từ vị trí thứ 5 lên vị trí thứ 2, theo đánh giá của Brand Finance trong năm nay. Coca-Cola rớt xuống vị trí thứ 3, một phần nguyên nhân do thương hiệu đồ uống giải khát này đang mất dần sức mạnh vốn có của mình tại các nước đang phát triển. “Coke đang trên đà xuống dốc về lâu dài nếu thương hiệu này không biết tự làm mới chính mình”, theo David Haigh, giám đốc điều hành của Brand Finance.

Giá trị thương hiệu của Wal-Mart lên tới 41.4 tỉ USD, theo sau là Google với 36.2 tỉ và Coca-Cola với 34.8 tỉ.

Vodafone trở thành thương hiệu có giá trị nhất tại Anh.

IBM và Microsoft nằm trong top 5 (với giá trị thương hiệu tương ứng là 33.7 tỉ và 33.6 tỉ). Nằm trong top 10 còn có GE, Vodafone, HSBC, HP and Toyota. Vodafone và HSBC đã hoán đổi với nhau vị trí số 7 và 8. Vodafone đã đánh bại HSBC, trở thành thương hiệu có giá trị lớn nhất tại Anh.

Toyota sẽ “lãnh đạn” vào năm tới

Toyota rất có khả năng sẽ gặp vấn đề về giá trị thương hiệu do tác động của đợt thu hồi sản phẩm vừa rồi. Dù đợt thu hồi không kịp gây ảnh hưởng tới Toyota trong bảng xếp hạng năm nay, nhưng tác động này sẽ “hủy diệt” thương hiệu này vào năm sau. Toyota đã quá chậm chễ trong việc xử lí khủng hoảng và cái giá phải trả là sự thiệt hại nặng nề về giá trị thương hiệu.

Toyota còn bị chỉ trích là không triển khai kế hoạch thu hồi sản phẩm một cách nhanh chóng và những nỗ lực xã hội nhằm sử lí khủng hoảng được cho là rất tầm thường.

Phạm Vũ Hoàng Quân dịch từ Marketing VOX

Biến pc&laptop thành bộ phát wifi

Nhà các bạn có nhiều người xài LAPTOP và ĐT có WIFI, bạn muốn lắp đặt Wireless nhưng bạn phải để dành tiền bao BỒ đi chơi. Tại sao kg biến chính PC(computer) & LAPTOP của bạn thành bộ phát WIFI?
Yêu cầu:
- Laptop,PC phải có Wifi. (nếu chưa có thì mua USB Wifi gắn vào,giá khoảng 200k hà).
- Máy bạn phải kết nối Internet bằng dây cáp(LAN).

Cách làm trên Vista (Nếu làm trên Windows 7,có khác đôi chút nhưng vẫn OK)
Bước 1:
click vào biểu tượng network ở taskbar rồi chọn Network and Sharing Center
Bước 2:
chọn Set up a connection or network
Bước 3:
chọn setup a wriless ad hoc
Bước 4: Next luôn
Bước 5:
nhập network name: là tên bạn muốn đặt cho cái mạng của bạn
Security type là chế độ bảo mật, bạn có thể chọn (WEP, WPA2) hoặc không chọn bảo mật.
Bước 6:
Bạn sẽ thấy tên network bạn vừa đặt báo đã thành công.
như vậy là bạn đã tạo thành công AP cho máy qua ad-hoc, bạn vào search sóng wifi sẽ thấy cái tên network mà bạn vừa tạo với cột sóng cao ngất ,
nhưng lúc này máy khác có thể truy cập vào sóng wifi đó nhưng chưa vào mạng được. Bạn cần phải tạo 1 cầu nối (bridge) mạng cho wifi thì nó mới cho máy khác vào net được, làm như sau:
thiết lập network bridge
quay trở lại cửa sổ Network and Sharing Center, chọn manager network connection
chọn cả 2 card mạng gồm Lan và wriless rồi click phải chọn creat bridge từ menu nhả xuống.
nếu làm đúng bạn sẽ có 1 network bridge
vậy là ok rồi, bây giờ bạn quay lại cửa sổ Network and Sharing Center, chọn connect t a network, mọi thứ đã xong, lấy con iPhone ra bật wriless,
nhận ngay trạm phát sóng rất mạnh, connect vào đó, đợi vài giây, ok vào mạng.
*chú ý:
- phải bật wriless on trong suốt quá trình cài đặt và sử dụng
- nếu dùng máy bàn làm trạm phát thì công cụ cần là card Lan để cắm dây Lan từ router vào, và USB wriless để phát sóng wifi.
- nếu dùng laptop thì chỉ việc cắm dây lan vào cổng LAN.

Cái này là mình tìm được bên tinhte. Xin phép người viết post tại đây. Bên tinhte dùng cho Iphone còn mình thử trên Exec không cần bước 6.Sóng căng đét. Làm được thì thanks mình nhé.



Nếu các bạn làm đúng các bước trên thì 100% thành công.

Thứ Ba, 26 tháng 1, 2010

Cười bài học - Học bài cười (24h) - Có những truyện cười đọc xong cười ra nước mắt, có những bài học học xong vài ngày vẫn... cười! Bài học 1: Thấy Q

(24h) - Có những truyện cười đọc xong cười ra nước mắt, có những bài học học xong vài ngày vẫn... cười!

Bài học 1:
Thấy Quạ ngồi trên cây cả ngày mà không làm gì, Thỏ con hỏi:
- Tôi có thể ngồi cả ngày mà không làm gì như anh không?
- Tất nhiên, tại sao lại không - Quạ nói.
Vậy là Thỏ con ngồi dưới đất nghỉ ngơi. Bỗng nhiên, Cáo già xuất hiện, vồ lấy Thỏ và ăn thịt.
Bài học rút ra:
Để được ngồi không, bạn phải ngồi ở vị trí rất, rất cao.

Cười bài học - Học bài cười, Truyện cười, Cười suốt 24giờ,

Bài học 2:
Gà tây nói với Bò tót:
- Tôi muốn nhảy lên ngọn cây kia nhưng tôi không đủ sức.
- Vậy thì rỉa phân tôi đi - Bò tót khuyên.
Gà tây mổ phân của Bò tót và thấy thực sự đủ sức để nhảy lên cành cây thứ nhất. Ngày tiếp theo, sau khi ăn một ít phân bò, Gà tây nhảy được đến cành cây thứ hai. Cứ thế đến nửa tháng sau, Gà tây đã lên tới ngọn cây. Không lâu sau đó, Gà tây bị một bác nông dân bắn rơi.
Bài học rút ra:
Sự ngu ngốc có thể đưa bạn lên đỉnh cao nhưng không thể giữ bạn ở đó mãi.

Cười bài học - Học bài cười, Truyện cười, Cười suốt 24giờ,

Bài học 3:
Chim non đang bay về phía nam để tránh rét thì bị đông cứng và rơi xuống một cánh đồng. Trong khi nó đang nằm đó thì Bò cái tới và phóng uế lên người nó. Trong lúc bị đông cứng vì rét, bãi phân bò lại làm cho Chim non thấy ấm lên và tỉnh lại. Nó cất tiếng hót vì sung sướng thì một chú mèo đi qua nghe thấy. Mèo tìm đến bãi phân bò, lôi Chim non ra rồi ăn thịt.
Bài học rút ra:
1) Không phải bất cứ ai vây bẩn lên bạn cũng đều là kẻ thù.
2) Không phải bất cứ ai kéo bạn ra khỏi chốn bẩn thỉu cũng đều là bạn.
3) Khi bạn đang ở sâu trong chốn bẩn thỉu, hay im lặng.

Cười bài học - Học bài cười, Truyện cười, Cười suốt 24giờ,

Warren Buffet của đời thường

Khi không diễn thuyết, không dự họp, không lên truyền hình, tỷ phú Mỹ Warren Buffet cũng có sở thích như những người bình thường khác. Ông thường ăn kem, chơi bóng chày, bóng bàn, đàn hát...
Warren Buffet thường ăn kem, dù là kem cốc...
hay kem que. Ảnh: Reuters
Một bữa ăn trưa nhanh của Buffet. Bức ảnh được đăng trên Economist, Finance và Economics, tháng 9/2008.
Warren Buffett chơi bài bridge sau một cuộc họp năm 2005 với các cổ đông của Berkshire Hathaway. Ảnh: AP
Bóng chày cũng là một sở thích của Buffet. Ảnh: Corbis
Đàn và hát say sưa. Ảnh: AP
Warren Buffet và Bill Gates cùng chơi bóng bàn sau một cuộc họp ở Omaha, bang Nebraska ngày 6/5/2007. Ảnh: AP
Giây phút rảnh rỗi trên những chuyến bay cùng với Bill Gates, vừa ăn uống vừa chơi bài. Ảnh: Netjet
Buffet khi không mặc áo sơ mi trắng, thắt cavat, ngồi tham dự một buổi biểu diễn cùng tỷ phú Bill Gates.
và ngoài đời thường với vợ. Ảnh: NYTimes

Tâm Anh

Thiếu tầm nhìn - khó giàu

Năm 1973, Gary Kildall viết hệ điều hành phần mềm cho máy tính cá nhân có tên là CP/M. Năm 1980, IBM bắt đầu hướng đến việc phát triển máy tính cá nhân vì họ thấy được một thị trường tiềm năng trong lĩnh vực này.

Ngay sau đó, IBM tiếp cận Kildall với ý muốn sử dụng sản phẩm của ông như một phần cốt lõi trong sản phẩm mới của họ. Tuy vậy, Kildall không mấy nhiệt tình với ý tưởng này. Huyền thoại của Thung lũng Silicon nói rằng anh thà bay trên chiếc phi cơ mới của mình và rơi xuống còn hơn là ngồi chung thuyền với IBM.

Nản lòng trước thái độ bất hợp tác của Kildall, IBM đã chuyển hướng sang hệ thống phần mềm khác - họ tìm đến Bill Gates, người đồng sáng lập ra một công ty nhỏ có tên là Microsoft cùng với Paul Allen. Gates đã tạo ra hệ điều hành MS-DOS (thật ra nó được viết dựa trên một phần của CP/M). Và sau cùng, Gates đã đặt bút ký kết thỏa thuận, cho phép IBM cài đặt phần mềm của Gates trong các máy tính cá nhân của IBM, và sau đó hệ điều hành hiện diện trong 95% máy tính cá nhân trên toàn thế giới.

Trước khi Internet thực sự bùng nổ vào năm 2000, Bill Gates đã là người giàu nhất thế giới (1996 - 2007) với tài sản lên đến hàng chục tỷ đôla. Hiện nay Gates đã rút lui khỏi Microsoft và dốc sức vào các hoạt động từ thiện nhưng ông vẫn được xem là huyền thoại trong lĩnh vực phần mềm máy vi tính. Còn Gary Kildall mất vào năm 1994. Ông được xem là một trong những nhà lập trình máy tính tài ba nhất thế giới nhưng lại là một người không đủ tầm nhìn về tương lai để có những bước đi chính xác trong hiện tại.

Dĩ nhiên, Gary Kildall không phải là người duy nhất không có tầm nhìn đó. Theo tạp chí American Scientist, Thomas J. Watson Sr., người sáng lập IBM, nói rằng: “Tôi nghĩ ở thời điểm này (1943) nhu cầu máy tính trên toàn thế giới có lẽ chỉ cần khoảng 5 máy là đủ”. Vào năm 1951, Douglas Hartree, một nhà toán học xuất sắc tại Đại học Cambridge, đã tạo ra chiếc máy phân tích vi phân đầu tiên (tiền thân của loại máy tính hiện đại) ở Anh. Nhưng ông cho rằng không một ai cần dùng những chiếc máy này cho công việc của họ hoặc có thể có đủ tiền để mua chúng. Nếu cả Thomas lẫn Douglas có tầm nhìn như Bill Gates, rất có thể họ mới chính là những người đã tạo nên lịch sử trong lĩnh vực công nghệ thông tin.

Nhà bán hàng bậc thầy Mỹ - Zig Ziglar tâm sự: "Tôi đang nói với bạn về những điều tốt đẹp trong hiện tại để làm nền tảng vững chắc cho tương lai. Khi tôi viết quyển sách này, tôi đã ở vào tuổi bát tuần, đã trải bao thăng trầm và nếm nhiều đắng cay ngọt bùi của cuộc đời. Giờ đây, tôi muốn chia sẻ những kinh nghiệm quý báu mà tôi đã chắt lọc trong suốt vài chục năm qua để giúp bạn sống một đời viên mãn. Đó chính là lý do tôi thấy mình có đủ tư cách trở thành tiếng nói từ tương lai của bạn, chia sẻ với bạn những điều tôi biết, những tinh hoa của cuộc đời.

Tôi không dám nói rằng cuộc sống của mình đã viên mãn nhưng tôi dám chắc là mình hiểu được cuộc sống viên mãn là như thế nào, cách thức vươn đến ra sao. Và tôi thực sự rất muốn chia sẻ, nhắc nhở và thúc đẩy tất cả các bạn hướng về phía trước. Tôi tin rằng nếu bạn thực hành những điều tôi vừa trình bày với bạn, tương lai của bạn sẽ khác biệt hoàn toàn - thành công hơn, hạnh phúc hơn, viên mãn hơn! Bạn sẽ có một tầm nhìn đúng đắn về tương lai để nắm chắc vận hội của mình, để có một nền tảng vững chắc ngay hôm nay và có thể thụ hưởng thành quả ở ngày mai.

Nhiều người thường hỏi tôi rằng họ sẽ thay đổi điều gì trong cuộc sống của mình nếu họ được quay trở lại thời thanh niên. Tôi xin phép được mượn câu trả lời của một người phụ nữ mà tôi đã gặp cách đây nhiều năm - cô ấy bảo rằng mình sẽ không thay đổi bất kỳ điều gì cả, vì nếu thay đổi, cô ấy có thể sẽ không ở nơi mà cô ấy đang đứng bây giờ, nơi mà cô ấy yêu thích nhất. Đó cũng là điều mà tôi tâm niệm với tư cách là người phát ngôn cho tương lai của bạn - nếu bạn yêu cuộc sống với tất cả trái tim, tâm hồn và lý trí, thì cuộc sống này sẽ đáp lại bạn bằng những điều tốt đẹp như thế.

Sự viên mãn không thể có được khi ta chỉ gắng sức vun vén cho riêng mình. Có nghĩa là, một khi bạn giúp người khác đạt được ý nguyện và hạnh phúc thì bạn sẽ nhận được sự mãn nguyện và hạnh phúc. Và khi tôi xem đó như là sứ mệnh của đời mình, tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc trong việc động viên và thúc đẩy người khác khám phá ra mục đích sống thực sự của họ để sống có ý nghĩa và để lại di sản cho đời sau.

Chính vì xem đó như là sứ mệnh của đời mình nên tôi đã dồn mọi tâm sức, nhiệt huyết, niềm đam mê để thực hiện. Bất kể bạn làm nghề gì thì tất cả những gì bạn cần phải làm là tìm thấy mục đích sống của mình, nỗ lực thực hiện nó và trải nghiệm một cuộc sống trên cả tuyệt vời. Đó là một cuộc hành trình kéo dài đến suốt đời, một con đường thiên lý, một cuộc sống vĩnh hằng.

Tiến sĩ Tony Campolo cho rằng quá khứ của chúng ta rất quan trọng vì nó mang ta đến nơi mà ta đang đứng hôm nay. Quá khứ quan trọng là thế, nhưng nó gần như không quan trọng bằng cách mà bạn nhìn vào tương lai của mình, vì việc bạn nhìn vào tương lai sẽ xác định suy nghĩ của bạn ngày hôm nay. Và để có một tương lai xán lạn, bạn cần phải bắt đầu ngay từ hôm nay, ngay từ lúc bạn mở ra một chương mới trong cuộc đời mình.

Tôi còn nhớ có một hôm vào những năm đầu khi tôi mới bước vào nghề diễn thuyết, tôi đến diễn thuyết thay cho Tiến sĩ Norman Vincent Peale vì ông ấy bị ốm. Những người có mặt hiển nhiên đã rất thất vọng vì họ phải lắng nghe một kẻ vô danh như tôi thay vì Tiến sĩ Peale nổi tiếng của họ. Dù vậy, tôi vẫn không cảm thấy áp lực đè nặng mà cố gắng thể hiện hết khả năng của mình. Sau buổi diễn thuyết, một người phụ nữ đứng tuổi tiến lại gần tôi và hỏi về vật thay thế mà tôi có đề cập trong bài thuyết trình của mình. Thay vì giải thích cho bà về điều này, tôi đã kể cho bà nghe một câu chuyện ngắn.

Câu chuyện của tôi quay ngược thời gian vào lúc tôi còn là một cậu bé hiếu động, thích chơi bóng trong giờ giải lao ở trường tiểu học. Lúc đó, một cậu bạn cùng lớp không may đá quả bóng vào cửa sổ làm vỡ một ô cửa kính. Cô giáo của chúng tôi đã phải cắt một mảnh giấy cứng để lấp vào ô kính đó. Vì thế, tôi bảo với bà ấy rằng tôi giống như một tấm kính thay thế cho Tiến sĩ Peale. Với thiện ý và sự mãn nguyện hiển hiện trên gương mặt, bà hồ hởi đáp: “Vậy thì, ông Ziglar ạ, tôi không nghĩ ông là một tấm giấy cứng thay thế đâu. Tôi nghĩ ông thật sự là ‘một tấm kính có thật’”.

Những lời nói của bà dẫu rất hình tượng, nhưng tôi vẫn nghĩ về nó trong sự liên hệ với sứ mệnh đời mình. Thực sự, tôi muốn làm một điều gì đó có ý nghĩa để bạn soi rọi và hướng đến một tương lai tươi sáng, một cuộc sống tốt đẹp hơn. Vì thế, tôi muốn đến gần bạn hơn - tôi đến từ tương lai của bạn để khuyến khích bạn, van nài bạn hãy nhận lấy món quà hào phóng mà cuộc sống đã ban cho chúng ta. Đó là tình yêu thương, là lòng bác ái. Một khi bạn nhận được món quà vô giá này, bạn cảm thấy như có một động lực phi thường để hoàn thành những công việc hằng ngày, tìm thấy và vươn đến mục đích cuộc đời; bạn cảm thấy yêu thương những người xung quanh như yêu chính bản thân mình.

Hôm nay, tôi muốn nói với bạn rằng tương lai của bạn sẽ rất tuyệt vời nếu bạn bước vào đó ngay từ giây phút này để giao hòa với mọi người, với cuộc sống. Đừng để lỗ hổng trong tâm hồn bạn ngày càng mở rộng. Hãy lấp đầy nó bằng lòng yêu thương và tình nhân ái để sống một cuộc sống mà bạn hằng mơ ước.

Chúc các bạn sớm đạt đến một cuộc sống “Trên cả tuyệt vời”.

(Trích cuốn sách "Vươn tới sự hoàn thiện" do Công ty First News phát hành.

Thứ Hai, 25 tháng 1, 2010

10 nhân vật có ảnh hưởng nhất thập kỷ

(Phần 2)
Tác giả: Khánh Duy (tổng hợp và bình luận)
Một người đã để lại sau lưng cả một di sản nặng nề, một người khác đang được hy vọng sẽ thay đổi di sản đó. Một người đã đứng trên đỉnh của một đế chế, một người khác sẽ tạo ra đế chế và đỉnh cao của riêng mình. Một người mà thế giới còn phải tiếp tục nhắc đến với cả sự bất an và tò mò. Thập kỷ vừa qua mang đậm dấu ấn của họ.

>> Phần 1

Báo VietNamNet chân thành cảm ơn những tư vấn và đóng góp của các học giả và nhà hoạt động thực tiễn nổi tiếng sau:

Joseph Nye: GS ĐH Harvard, nhà tư tưởng đối ngoại hàng đầu nước Mỹ

John Quelch: Phó hiệu trưởng trường kinh doanh Harvard

Dick Vietor: Phó hiệu trưởng trường kinh doanh Harvard

Thomas Patterson: GS ĐH Harvard, nhà nghiên cứu chính trị, báo chí hàng đầu nước Mỹ

Ann McDaniel: Phó chủ tịch tờ The Washington Post

Phil Balboni: Chủ tịch báo Global Post

Lyndon Haviland: Cố vấn truyền thông chiến lược cấp cao của LHQ

Joel Alison: Chủ tịch và tổng giám đốc mạng lưới chăm sóc sức khỏe Baylor

Marcel Zutter: Phó chủ tịch Tập đoàn State Street

Nigel Freer: Chủ tịch Dawson Holdings PLC

Barack Obama

Tổng thống da màu đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ nên được gọi là sứ giả của hy vọng. Ông đem đến hy vọng lớn lao trong một giai đoạn hỗn loạn của khủng hoảng kinh tế và mất niềm tin chính trị nghiêm trọng trong lịch sử nước Mỹ và thế giới.

Obama đã được bầu nhờ "nói thật" nhiều điều đằng sau lớp áo giả dối: tranh cử là "ăn xin"; chính trị là "màn kịch", tranh luận là "biểu diễn", chính trị gia luôn "mắc chứng hoang tưởng tự đại" và là "con rối của nhóm đặc quyền", quan điểm của mỗi đảng phái là "loại sản phẩm đóng gói", quá trình lập pháp là "sản phẩm của hàng trăm thỏa hiệp lớn nhỏ"...

Obama kêu gọi tìm lại nền chính trị của sự thật nơi sự cân bằng, chín chắn và lẽ phải ngự trị. Người dân Mỹ và thế giới vẫn đang quan sát xem nhà hùng biện này có đem đến thành công hay cũng lại trở thành nạn nhân của sự thật như một câu nói nổi tiếng của ông.

"Chính trị gia ngày nay hiểu điều đó, ông ta có thể không nói dối, nhưng ông ta biết không có gì tốt đẹp dành cho người nói thật."

Steve Jobs

CEO của Apple có một số phận thăng trầm kỳ lạ.

20 đã bỏ học để sáng lập ra công ty Apple trong một gara ôtô. 30 tuổi bị đuổi khỏi chính công ty mà mình sáng lập. 40 tuổi trở lại nắm quyền và liên tục cho ra đời những "tác phẩm" cách mạng trong công nghệ: Mac Book, Ipod, Iphone.

Steve là "thầy phù thủy" bởi mỗi khi chiếc đũa thần của ông chạm vào lĩnh vực nào thì ở nơi ấy xuất hiện những điều kỳ diệu.

Năm 2004, ông bị chẩn đoán ung thư tuyến tụy nhưng cũng kỳ lạ thay, các bác sỹ đã reo lên khi nội soi cho ông và phát hiện ra rằng đó là trường hợp ung thư hiếm hoi có thể chữa được bằng phẫu thuật.

Gã "lông bông" chưa có bằng Đại học "tái xuất" sau cơn bạo bệnh và có bài phát biểu xúc động ở lễ tốt nghiệp của trường Stanford, nơi ấy, "thầy phù thủy" đã cho sinh viên những lời khuyên gan ruột từ cuộc đời thăng trầm của mình:

"Đừng lãng phí thời gian để sống cho cuộc đời một ai đó... Hãy luôn khát khao, hãy cứ dại khờ."

Osama Bin Laden

Lãnh tụ của phong trào Hồi giáo cực đoan chắc chắn là nhân vật có ảnh hưởng "tiêu cực" nhất trong thập kỷ vừa qua.

Người đàn ông 54 tuổi người Ả rập này cũng là nhân vật bí ẩn nhất, thích xem BBC nhưng lại căm ghét phương Tây, thích làm thơ làm vườn nhưng lại ưa súng ống, sẵn sàng sống khổ hạnh trong hang núi nhưng khi cần cũng xa hoa với Mercedes và thuyền đua.

Bin Laden có ít nhất 5 vợ và cả tá con, người vợ cả và con trai đều cho biết trùm khủng bổ nổi tiếng là người giỏi tính toán và có thể đọ sức cả với máy tính. Tài tính toán của Bin Laden đã được thể hiện qua khả năng đạo diễn vụ 11/9 một cách tinh vi, khiến Bin Laden trở thành biểu tượng tinh thần không chỉ của nhóm Al-Qeada mà còn của phong trào Hồi giáo cực đoan toàn cầu.

Câu nói thể hiện bản chất của Bin Laden rõ hơn cả là khi nhóm Al-Qeada bàn kế hoạch thực hiện vụ khủng bố 11/9 bằng cách cho một máy bay nhỏ chứa thuốc nổ lao vào Tòa tháp đôi ở New York. Bin Laden đã sửa lại kế hoạch đó, thay máy bay nhỏ bằng máy bay thương mại chở khách và lập luận:

"Tại sao lại phải dùng rìu trong khi có thể dùng xe ủi?"

George W. Bush

Cựu tổng thống Hoa Kỳ trong gần suốt thập kỷ có lần tự nhận mình là "decider", một từ có thể hiểu là "người quyết định" mặc dù nó không có trong từ điển tiếng Anh.

Đó là một trong vô số những phát ngôn bị chê cười của ông Bush, tổng thống thứ 43 trong lịch sử Hoa Kỳ có lần đã nói: "Đã nhiều lần, tôi tự hỏi mình rằng: Tại sao, tại sao cậu lại cứ thích xớ rớ vào những chuyện xảy ra bên ngoài nước Mỹ thế hả Bush?"

Xâm chiếm Iraq và tấn công Afganistan là hai trong số những quyết định "xớ rớ" như thế, cũng là hai quyết định mang tầm ảnh hưởng toàn cầu và gây tranh cãi nhất.

2 nhiệm kỳ 8 năm của ông Bush không mấy thành công, Bush được "chào đón" bằng một cuộc đại tấn công khủng bố và "chia tay" bằng cuộc đại khủng hoảng kinh tế. Thêm vào đó, Bush làm mất lòng một cơ số đồng minh và tự tạo ra không ít kẻ thù.

Nỗi lo ngại về kẻ thù đã khiến cho vị tổng thống xuất thân từ doanh nhân dầu lửa tiếp tục có những phát biểu như trong phim hài:

"Những kẻ thù của chúng ta rất sáng tạo và nhiều thủ đoạn, chúng ta cũng thế. Chúng không ngừng nghĩ ra những phương cách mới để hãm hại đất nước và con người Mỹ, chúng ta cũng thế."

Mark Zuckerberg

CEO của mạng xã hội Facebook là một doanh nhân ngẫu nhiên và một tỉ phú tình cờ. Như Steve Jobs và Bill Gates, chàng trai sinh năm 1984 này không hứng thú gì với việc học hành ở trường Đại học, anh bỏ ngang trường Harvard để đến California khởi lập công ty Facebook.

Lập nghiệp từ năm 20 tuổi với hai bàn tay trắng: không nhà cửa, không tiền bạc, không xe hơi, giờ đây, chỉ 3 năm sau, 2007, Mark đã trở thành ông chủ của công ty trị giá 15 tỉ USD sau quyết định mua 1,6% cổ phần Facebok của Bill Gates.

Nhà tỉ phú trẻ vẫn thích mặc quần jeans và đi xăng đan này cũng không nghĩ rằng ý tưởng ban đầu hồn nhiên lại dẫn anh tới ngai vàng đầy quyền lực của một vương quốc có tới 350 triệu thần dân tính tới cuối năm 2009.

Facebook của Mark đã thay đổi và dẫn dắt cuộc cách mạng trong lĩnh vực mạng xã hội. Ít ai ngờ, ý tưởng của nó nảy sinh khi chàng trai tội nghiệp đang ngập chìm trong rượu bởi lần đầu tiên bị phụ tình:

"Jessica là một cô gái lẳng lơ. Tôi cần phải nghĩ đến một cái gì để cô ấy biến khỏi đầu óc tôi. Tôi cần có cái gì đó xâm lấn tâm trí tôi. Thế là, tôi nghĩ ra ý tưởng (Facebook)"

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2010

Chuyện ngộ nghĩnh về “thầy phù thủy” Edison

Sáng Chủ Nhật ngày 18/10/1931, Thomas Edison lìa trần chỉ 3 ngày trước lễ kỉ niệm sinh nhật lần thứ 52 của chiếc bóng điện đầu tiên. Đèn điện trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ đều tắt trong một phút để tưởng nhớ người vĩ nhân, “người bạn của nhân loại” đã mang đến cho con người một thứ ánh sáng quý giá, một “mặt trời thứ hai”.

Tưởng nhớ ông, nhiều người còn nhớ cả những câu chuyện ngộ nghĩnh của nhà bác học đãng trí, "ngô nghê" này ...

…Trở lại tuổi thơ của Edison, dáng dấp của một nhà khoa học lớn đã hình thành ngay từ những câu chuyện có phần ngộ nghĩnh ấy của cậu bé ở miền Tây nước Mĩ.

Mô tả ảnh.
Edison thời trẻ - Ảnh: Wiki

Những câu hỏi tại sao bất tận

Edison là con út trong một gia đình có 7 anh chị em. Bố ông, Samuel Edison là người Hà Lan, bà mẹ Nancy của ông là một giáo viên tiểu học người Scotland. Ngay từ khi còn nhỏ, Edison đã tỏ ra là một cậu bé hiếu kì, ham hiểu biết, luôn thắc mắc “tại sao” và truy đuổi câu trả lời đến cùng. Mẹ Nancy của Edison rất hiểu tâm lí đứa con trai của mình và đã thoáng nhìn ra hình ảnh một thần đồng khoa học. Trước những câu hỏi kì lạ của con, bà Nancy thường kiên trì giảng giải tỉ mỉ và kích thích thêm sự tò mò của đứa con.

Có một lần, Edison hỏi bố: “Bố ơi, tại sao lại có gió?”. Bố trả lời: “Edison, con không hiểu được đâu!”. Edison lại hỏi: “Tại sao con lại không hiểu được?”. Bố đáp: “Con hãy thử hỏi mẹ con xem”. Thế là Edison tìm đến mẹ và hỏi. Sau lần đó, bà Nancy trách chồng: “Anh không thể lúc nào cũng nói với con là nó không biết gì cả. Như thế là kìm hãm lòng ham hiểu biết của con chúng ta rồi đấy!”.

Không những hiếu kì, ham hỏi, mà chuyện gì cũng phải hỏi cho ra nhẽ, cậu bé Edison còn rất thích tự mày mò làm thử. Một hôm, đã đến giờ ăn nhưng Edison vẫn không về nhà. Mẹ Nancy rất lo lắng, tất tả chạy đi tìm khắp nơi mà vẫn không thấy. Đến tối mịt, bà vô cùng kinh ngạc khi nhận ra Edison ở một túp lều tranh. Cậu bé nằm sấp trên một đống cỏ tranh, đầu tóc rối bù, dưới bụng là mấy quả trứng gà. Cậu cứ thế nằm im, vẻ mặt đầy chăm chú. Bà Nancy ngạc nhiên: “Edison! Con đang làm gì thế?”. Edison tươi tỉnh đáp: “Con đang ấp trứng cho gà nở thành con”. Bà mẹ phì cười. Thì ra Edison nhìn thấy gà mẹ ấp trứng nở thành gà con nên tò mò muốn thử tự mình ấp xem có nở ra gà con được không!

Đến năm 7 tuổi, Edison được cha mẹ cho đi học ở ngôi trường độc nhất trong vùng. Gọi là trường nhưng chỉ có một lớp học 40 học sinh lớn bé đủ cả. Ông giáo dạy học sinh theo những trình độ khác nhau. Edison được xếp ngồi gần ông nhất, đó vốn là chỗ cho những học sinh kém cỏi nhất. Trong khi học, Edison không chú tâm trả lời câu hỏi của thầy giáo mà thường đặt ra nhiều câu hỏi hóc búa với thầy giáo. Vì thế, cậu thường đội sổ và bị bè bạn chê cười.

Một hôm, khi nhân viên thanh tra vào kiểm tra lớp học, thầy giáo của Edison chỉ vào cậu bé và nói: “Học trò này điên khùng, không đáng ngồi học lâu hơn”. Edison rất căm giận hai chữ “điên khùng” và mang chuyện về kể với mẹ. Sau khi rõ ngọn ngành, bà Nancy vô cùng tức giận, dẫn Edison đến trước mặt thầy giáo và tuyên bố: “Ông bảo con tôi điên khùng sao? Nghe này, trí óc của nó còn hơn cả ông đấy. Tôi sẽ giữ nó tại nhà và dạy lấy để ông thấy rằng sau này nó sẽ ra sao!”. Từ đó, Edison không đến trường nữa mà ở nhà tự học cùng mẹ. Edison làm quen dần với Lịch Sử Hy Lạp, La Mã, Thánh Kinh, các tác phẩm của Shakespeare… Nhưng đặc biệt, Edison tỏ ra vô cùng ưa thích khoa học. Cậu có thể kể lại rành mạch các phát minh, các thí nghiệm và tiểu sử của các nhà đại bác học như Newton, Galileo… Không những được truyền dạy học vấn, Edison còn được mẹ huấn luyện về đạo đức. Cậu bé được mẹ căn dặn phải sống thật thà, ngay thẳng, tự tin và cần cù, phải có lòng ái quốc và tình yêu nhân loại.

Nhà khoa học nhí lang thang và lời cầu hôn cấp tốc

Bố Samuel của Edison làm nghề buôn bán ngói lợp mái nhà nên ngay từ nhỏ, cậu bé đã thường xuyên được tiếp xúc với các công cụ khoa học. Một lần, sau khi chứng kiến cảnh bố mình đang dùng quả khí cầu để làm thí nghiệm bay, Edison đã vô cùng phấn khích. Với niềm tin chắc chắn rằng: nếu bụng con người cũng chứa đầy không khí như của khí cầu thì người ta có thể bay lên, Edison đã miệt mài tự chế ra mấy loại chất hóa học và bảo người làm thuê của bố là Max thử uống. Sau khi uống thứ thuốc Edison đưa cho, Max gần như ngất lịm người. Nhưng Edison thì vẫn một mực cho rằng: không bay lên được là thất bại của anh ta chứ không phải của mình!

200px-Thomas_Edison.jpg Mô tả ảnh.
Những chân dung khác của Edison - Ảnh: Wiki

Năm 12 tuổi, Edison làm nghề bán báo và bán kẹo dạo trên tàu hỏa. Với niềm say mê khoa học không bao giờ dứt, cậu bé đã tự lập cho mình một phòng thí nghiệm hóa học nhỏ ngay trên một khoang trống của toa tàu. Ngày ngày, vừa bán báo, Edison vừa tự mày mò nghiên cứu khoa học. Một lần, trong khi làm thí nghiệm, do không cẩn thận, Edison đã làm cháy toa tàu. Kết quả là cậu bị nhân viên soát vé tàu tát cho một cái ù tai và đuổi khỏi tàu, đồng thời cấm lai vãng đến đường ray nữa. Sự việc này đã khiến cho khả năng thị giác của Edison ngày một kém dần. Nhưng trong rủi có may, bị điếc Edison gặp trở ngại trong giao tiếp nhưng bù lại ông có thể chuyên tâm cho những nghiên cứu của mình mà không chịu sự quấy rầy nào.

Chuyện tình cảm của Edison cũng có nhiều điểm rất thú vị. Năm 24 tuổi, Edison là chủ của một xí nghiệp khá nổi danh. Khi công việc dần ổn định, ý định xây dựng gia đình chợt hiện lên trong đầu và người đầu tiên chàng trai trẻ tuổi để ý đến là cô nàng thư kí Mary làm trong công ty. Một hôm, Edison đến trước mặt nàng Mary dịu dàng, thanh tú và nói: “Thưa cô, tôi không muốn phí thì giờ nói những câu vô ích. Tôi xin hỏi cô một câu rất ngắn gọn và rõ ràng: Cô có ưng làm vợ tôi không?”. Hoàn toàn sửng sốt và bất ngờ, cô gái không tin vào tai mình. “Ý cô thế nào, cô nhận lời tôi chứ. Tôi xin cô suy nghĩ trong vòng năm phút”. Edison nhắc lại lời cầu hôn “cấp tốc" của mình bằng vẻ mặt rất nghiêm chỉnh. “Năm phút cơ à? Thế thì lâu quá! Vâng, em nhận lời”. Mary lí nhí, đỏ mặt đáp. Đám cưới của Edison và Mary diễn ra ngay sau đó. Hai người có với nhau được 3 người con. Sau khi Mary mất, ông cưới thêm một người vợ 19 tuổi nữa tên là Mina. Họ có với nhau 3 người con. Một trong số đó sau này tiếp quản công ty của Edison và trở thành thống đốc bang New Jersey. Edison mất ở tuổi 84, những câu cuối cùng ông nói vợ mình là: “Ở ngoài kia đẹp quá”.

Chuyện về Edison có kể đến thế kỉ bao nhiêu cũng không hết. Bởi đơn giản, cuộc đời ông chính là lát cắt chân thực nhất của khoa học, những phát minh của ông sẽ còn rọi sáng nhiều thế kỉ sau này nữa. Trong suốt cuộc đời cống hiến tận tụy của mình, Edison đã lãnh trước sau 1907 bằng phát minh, một kỉ lục vô tiền khoáng hậu trong giới khoa học. Ông cũng đã đọc tới hơn 10.000 cuốn sách và mỗi ngày ông có thể đọc hết 3 cuốn sách. Trí nhớ siêu việt và đầu óc sáng tạo không biết mệt mỏi đã làm cho tên tuổi ông trở thành chiếc chìa khóa tuyệt vời mở ra thế kỉ 20 cho nhân loại. Vì những phát minh kì diệu của ông, một tờ báo ở Mĩ hồi đó đã gọi Edison là “thầy phù thủy ở Menlo Park” (Menlo Park là tên phòng thí nghiệm của ông).
  • Minh Phương

Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2010

Những nhân vật có ảnh hưởng nhất thập kỷ

Vladimir Putin

Hiện lên như một người đàn ông cường tráng và mạnh mẽ, đối nghịch với hình ảnh những lãnh tụ quốc gia già yếu Xô Viết trong lịch sử, Putin có sức thu hút đặc biệt. Chơi Judo, câu cá, bơi lội, chèo thuyền, lái máy bay chiến đấu, tầu thủy, xe tăng, thậm chí cởi trần cưỡi ngựa, Putin thể hiện như một anh hùng trong phim Hollywood.

Trong mắt một phần đông người Nga, Putin là anh hùng đã cứu nước Nga thoát khỏi trạng thái hỗn loạn và tìm lại vị thế cường quốc sau khi Liên bang Xô Viết sụp đổ. Nhà tỉ phú Soros có lý khi nhận định: "Với Putin, chủ nghĩa dân tộc thay cho chủ nghĩa cộng sản trong vai trò ý thức hệ."

Một quan điểm thân Mỹ và phương Tây cho rằng Putin là nhà độc tài có xu hướng dẫn dắt xã hội Nga đi về hướng phi dân chủ, cản trở tự do báo chí và xã hội dân sự. Putin trả lời:

"Tôi xin nói với các ngài một cách thành thật, chúng ta chắc chắn là không muốn có cùng kiểu dân chủ như họ có ở Iraq."

Bill Gates

Gates từng tâm sự rằng công việc chi phối ông tới mức nhiều lần ông lái xe vào con đường đến thẳng công ty trong khi định đi nơi khác. Gates sinh ra để đi trên con đường ấy với Microsoft, con đường đã mang lại cho ông ảnh hưởng toàn cầu.

Gates giờ đây đã đi một con đường khác. Năm 2008, ông chia tay Microsoft và trích 58 tỷ đôla tài sản của mình cho Quỹ từ thiện Bill và Melinda Gates. Người đàn ông giàu nhất thế giới từng "ước sao mình không phải là người giàu nhất" đã quyết định ghi dấu ấn và ảnh hưởng của mình ở một lĩnh vực hoàn toàn mới.

"Kẻ bỏ học nổi tiếng nhất Harvard" được coi là nhà tiên tri đã thành công trong việc "tạo ra thời đại" công nghệ thông tin nhờ "biết trước tương lai". Nhưng, khi tổng kết lại cuộc đời kinh doanh của mình trong cuốn "Con đường phía trước", ông vẫn nói:

"Thành công là một giáo viên tồi. Nó ru ngủ những người thông minh với suy nghĩ rằng họ không thể thất bại."

Alan Greenspan

Cựu chủ tịch Cục dự trữ Liên bang Mỹ FED là một tín đồ nhiệt thành của kinh tế thị trường tự do, môn đồ của trường phái "bàn tay vô hình" của Adam Smith.

18 năm ngồi trên ghế chủ tịch FED để điều hành chính sách tiền tệ của nước Mỹ, những quyết định của Greenspan có ảnh hưởng vô cùng lớn tới nền tài chính toàn cầu. Giai đoạn nắm quyền của Greenspan được coi là khúc khải hoàn ca của sự thịnh vượng Mỹ cũng như của lý thuyết kinh tế tự do.

Cho tới khi nhà kinh tế khi đó đã 80 tuổi "rửa tay gác kiếm" vào năm 2006, Greenspan vẫn được tụng ca nhiệt liệt. Mọi chuyện chỉ bắt đầu đổ vỡ khi cuộc khủng hoảng tài chính vô tiền khoáng hậu bùng nổ năm 2008.

Cựu chủ tịch FED bị coi là tội đồ khi đã giảm lãi suất liên tục từ năm 2001 tới giữa năm 2004, việc này bị cho là đã tạo đà cho bong bóng bất động sản phình đại dẫn tới khủng hoảng. Lý tưởng tự do phi điều tiết tài chính của ông cũng đã dẫn tới sự hình thành vô số các công cụ tài chính phái sinh, chất xúc tác làm lan truyền khủng hoảng.

Đáp lại tất cả những lời cáo buộc, con người dành cả cuộc đời mình để suy ngẫm về kinh tế học đã thừa nhận có "sai lầm" nhưng vẫn chưa hết "sốc" và "ngơ ngác"

"Trụ cột quan trọng của cạnh tranh và thị trường tự do đã đổ vỡ. Tôi cũng chưa hiểu rõ toàn bộ sự việc xảy ra như thế nào."

Hồ Cẩm Đào

Hồ Cẩm Đào sinh năm 1942, tuổi Nhâm Ngọ. Sự thăng tiến trên con đường chính trị của ông cũng nhanh chóng và suôn sẻ như ngựa phi trên thảo nguyên thênh thang.

Chú ngựa ấy luôn về nhất trong các cuộc đua dù "non" nhất. Khi còn đi học, ông luôn đứng đầu. Trên quan lộ, năm 1982, Hồ Cẩm Đào trở thành uỷ viên trung ương trẻ nhất khi mới 39 tuổi. Năm 1985, ở tuổi 43, Hồ Cẩm Đào là bí thư tỉnh uỷ Quý Châu, bí thư tỉnh uỷ trẻ nhất. Năm 1992, khi mới 49 tuổi, ông trở thành Ủy viên Bộ chính trị trẻ nhất và năm 98 là Phó Chủ tịch nước trẻ nhất.

Luôn trẻ nhất nhưng Hồ Cẩm Đào nổi tiếng là con người chín chắn và điềm tĩnh đến thần bí. Chỉ nói vừa đủ những điều cần nói vào những lúc cần nói, lãnh tụ của quốc gia 1,3 tỉ dân hiếm khi hé lộ những cảm xúc bột phát hay phát ngôn thiếu thận trọng.

Quan điểm của ông gói gọn trong một câu phát biểu của ông dịp kỷ niệm 60 năm Quốc Khánh Trung Quốc vừa qua:

"Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể cứu nguy cho Trung Quốc và chỉ có cải cách và mở cửa mới có thể đảm bảo cho sự phát triển của Trung Quốc."

Larry PageSergey Brin

Hai nhà sáng lập ra Google cũng không ngờ rằng dự án nghiên cứu chung của họ khi đang làm tiến sỹ ở Stanford lại làm cho họ trở thành những tỉ phú chỉ vài năm sau đó.

Dự án bắt đầu vào năm 1996 và chỉ 10 năm sau, 2006, số lượt tìm kiếm trên Google đã là 2,7 tỉ lượt một tháng. Ảnh hưởng của Google tiếp tục tăng phi mã, con số ấy vào cuối năm 2009 đã là 31 tỷ.

Hai chàng trai cùng sinh năm 1973 đã tuyên bố sứ mệnh của Google là "sắp xếp và quản lý thông tin toàn cầu." Hai tiến sỹ "hụt" của Stanford đã làm được điều đó khi giúp hàng tỉ công dân toàn cầu tiếp cận thông tin ở bất kỳ lĩnh vực nào một cách miễn phí và nhanh chóng nhất, họ đã thay đổi cách thức học tập và thu thập thông tin của thế giới.

Vậy nhưng, khi chia sẻ về những kinh nghiệm thành công của mình ở Israel năm 2003, Larry Page chỉ đơn giản nói:

"Bạn phải hơi ngốc nghếch trong việc đặt ra mục tiêu. Hãy quan tâm tới điều không thể. Bạn hãy thử làm những việc mà người khác chưa nghĩ tới."

(vietnamnet)

Lý do các tỷ phú hà tiện

Họ nắm trong tay tiền muôn, bạc tỷ nhưng vẫn đi làm bằng xe đạp, tự cắt tóc cho mình và mặc quần áo không phải hàng hiệu. Tiết kiệm là bí quyết giúp họ làm giàu, ngay cả khi đã dư dả họ vẫn duy trì thói quen căn cơ của mình.

Tạp chí Forbes đã điểm lại một số gương mặt tiêu biểu. Người đầu tiên phải kể đến là Ingvar Kamprad, người Thụy Điển, đã tạo dựng tài sản trị giá 33 tỷ USD từ những sản phẩm nội thất mang nhãn hiệu Ikea nổi tiếng.

Hiện nay, ông chạy chiếc xe Volvo đời 1993, đi máy bay hạng phổ thông và thường dùng bữa tại những nhà hàng giá rẻ. Trong những lần trả lời phỏng vấn báo chí, tỷ phú 81 tuổi này không giấu chuyện thường khuyên bảo nhân viên dưới quyền: “Hãy làm như tôi: ăn uống ở căngtin của Ikea. Tôi thường đi ăn với một người khác bởi vì khi đặt hai suất ăn, bạn sẽ được một ly cà phê miễn phí”.

Một “lão hà tiện” khác là John Caudwell, Chủ tịch Tập đoàn phân phối điện thoại di động Caudwell. Theo thống kê của Forbes vào tháng 3, tài sản của Caudwell đã lên đến 2,2 tỷ USD. Vậy mà đại gia người Anh này vẫn thường tự cắt tóc cho mình và chỉ trung thành với quần áo của chuỗi cửa hàng bán lẻ Marks & Spencer.

“Tôi không cần mặc thời trang cao cấp của Savill Row hay lãng phí với những chai rượu đắt tiền. Tôi không cần đốt tiền để khoe mẽ”, ngài tỷ phú 54 tuổi tuyên bố. Sở hữu một chiếc Ferrari và một chiếc Bentley (hai loại xe cao cấp), nhưng Caudwell từng có thời gian đạp xe 23km mỗi ngày để đi làm, vừa tập thể dục, vừa tiết kiệm tiền xăng.

Không hẹn mà gặp, rất nhiều tỷ phú hà tiện có cách sinh hoạt rất giống nhau.

Tỷ phú Ấn Độ Azim Premji chỉ thích đi máy bay hạng phổ thông.

Giáo sư đại học Stanford David Cheriton được hưởng hơn 3,4 triệu cổ phần của Google nhờ làm cố vấn cho hai nhà sáng lập tập đoàn này. Thế nhưng, tỷ phú người Canada vẫn thích tự đạp xe mỗi khi đến những nơi gần nhà, còn khi đi xa thì chỉ ngồi sau tay lái chiếc xe tải Volkswagen đời 1986. Cũng như những đại gia kể trên, Cheriton chỉ chọn đi máy bay hạng phổ thông, thích mặc quần jean, áo pull thay vì đồ hiệu. Thậm chí ông còn sử dụng lại túi trà lọc đã uống một lần. Giáo sư này cũng là một tay kéo có hạng vì thường xuyên tự cắt tóc cho mình.

Tỷ phú Ấn Độ Azim Premji, người làm nên tên tuổi Tập đoàn công nghệ Wipro, cũng nổi tiếng là dè sẻn. Dù có trong tay 17,1 tỷ USD, nhưng nhân vật được mệnh danh là một trong những người giàu nhất châu Á này lại thích đi máy bay hạng phổ thông và ở trong nhà khách của công ty thay vì khách sạn năm sao mỗi khi đi công tác.

Azim Premji lái chiếc Ford Escort trong tám năm trước khi đổi sang chiếc Toyota Corolla, nhưng phương tiện đi làm yêu thích nhất của ông vẫn là đi bộ. Ông chủ Wipro thường tự đi bộ từ nhà đến công ty. Cách đây vài năm, ông đã dùng đĩa giấy để phục vụ thức ăn trong bữa cơm thân mật mừng đám cưới con trai mình.

Tỷ phú Thụy Điển Ingvar Kamprad đóng góp rất nhiều cho từ thiện.

Danh sách những nhà giàu hà tiện còn có Jim Walton, thành viên của gia đình sáng lập chuỗi siêu thị Walmart. Tuy sở hữu 16,4 tỷ USD nhưng đến giờ vẫn lái một chiếc xe tải nhỏ hiệu Dodge Dakota đời 1992. Hoặc tỷ phú Warren Buffett, người giàu thứ ba thế giới với tài sản 57 tỷ USD, hiện vẫn sống trong căn nhà mà ông mua từ 50 năm trước.

Tuy tằn tiện trong chi tiêu cho bản thân, nhưng không ít đại gia kể trên lại là những nhà hảo tâm hàng đầu thế giới. Chẳng hạn, ông chủ Ikea sẵn sàng bỏ ra hàng triệu USD làm từ thiện, giúp đỡ dân chúng địa phương và là một trong những nhà tài trợ lớn cho Quĩ Nhi đồng LHQ (UNICEF). Còn Warren Buffett đã cam kết đóng góp gần hết gia sản của mình cho mục đích từ thiện.

Khi được hỏi về tính căn cơ của mình, tỷ phú David Cheriton dẫn định nghĩa của từ điển bách khoa mở Wikipedia: “Tiết kiệm là việc kiếm được và sử dụng có hiệu quả hàng hóa hay dịch vụ kinh tế để đạt được những mục tiêu lâu dài”. Cheriton nói đó mới là thứ mà ông đang theo đuổi.

(Theo Tuổi Trẻ)

5 nhân vật "đáng sợ" nhất thế giới tài chính

No. 5 - Bill Gates

Bill Gates nổi tiếng nhất với tên tuổi đứng vào top những người giàu nhất hành tinh và nhà sáng lập của công ty công nghệ khổng lồ Microsoft. Thứ đã giúp ông và công ty của ông thiết lập được sự thống trị gần như hoàn toàn trên thị trường không phải là trình độ công nghệ thượng hạng, mà chính là đầu óc kinh doanh nhạy bén và khả năng cạnh tranh quyết liệt. Khi Microsoft đứng đầu cuộc chơi với MS-DOS, Excel, Word và sau đó là Windows, rất nhiều nhà đầu tư băn khoăn không hiểu tại sao lợi nhuận không được tính vào trong cổ tức. Sớm sau đó, mọi người nhận ra rằng Bill Gates đang tích trữ để xây dựng nên một quy mô khổng lồ.

Nhà đầu tư, những người đã cố gắng "dụ dỗ" hội đồng quản trị chia lợi nhuận, thường phải yên lặng khi Bill Gates phác thảo kế hoạch để Microsoft trở thành một trong những công ty lớn nhất thế giới. Hiện tại Microsoft có hàng tỷ đôla tiền dự trữ để có thể sử dụng làm vũ khí hoặc một tấm khiên chắn, tùy từng trường hợp. Kể cả khi Microsoft phải đối mặt với những vụ kiện độc quyền hay chiếm lĩnh thị phần mới, Bill Gates và đế chế Microsoft của Gates vẫn rất đáng sợ.

No. 4 - George Soros

George Soros thường được ví như một tên cướp biển và bị xem thường ở nhiều nơi như Thái Lan, Anh hay Malaysia. Nhà đầu tư tiền tệ nổi tiếng này đã tạo ra đống tài sản khổng lồ của mình sau những vụ đầu tư tiền. Sau vụ chiến thắng Ngân hàng trung ương Anh, Soros trở thành một nhân vật đáng sợ đối với những quốc gia đang cố gắng để bảo vệ đồng tiền dễ bị tổn thương của họ. Soros vượt xa so với những nhà đầu tư chỉ nhìn vào con số. Ông nghiên cứu kỹ tình hình của một quốc gia và cố gắng vạch ra những lỗi trong định giá; đặc biệt ông có sở thích đối với tình hình chính trị quốc gia. Rất năng động trong các hoạt động từ thiện nhằm kích thích những thay đổi chính trị, Soros thường sử dụng các position tiền tệ của mình để "trừng phạt" các quốc gia có tình hình chính trị bất ổn nhưng hầu hết các nhà đầu cơ khác lại bỏ qua do các số liệu kinh tế quá "đẹp". Bằng cách gây áp lực tài chính đối với chính phủ của các quốc gia này, Soros có thể gây ra những thay đổi chính trị mà có thể đã không bao giờ xảy ra nếu không làm như vậy. Các chính phủ có thể sợ ông, nhưng người dân của các quốc gia này có thể cảm ơn ông. (Mặc dù khiến phố Wall sợ hãi, nhưng các khoản từ thiện và cho vay không tính lời thường được tài trợ bởi Soros và Gates).

No. 3 - Carl Icahn

Carl Icahn có thể được coi là người ảnh hưởng đến nhiều quy định của Ủy ban chứng khoán và sàn giao dịch hơn bất cứ cá nhân nào.

Icahn là người tạo ra thủ thuật "greenmailing" và một trong những nguyên nhân chính khiến các quy tắc giao dịch rất nghiêm ngặt đối với những thương vụ mua cổ phiếu lên tới 5% tổng cổ phiếu đang lưu hành của công ty khác. Icahn làm mọi việc từ mua lại tài sản để bán lấy giá cao hơn (stripping asset) và buộc các công ty mua lại cổ phiếu, đến việc mắng mỏ CEO và các thành viên trong hội đồng quản trị.

Giờ đây do được bao bọc bởi SEC, Icahn mua quyền kiểm soát hoặc thậm chí lợi ích của cổ đông thiểu số trong những công ty mà ông coi là bị định giá thấp. Sau đó, Icahn lên các kế hoạch để gây dựng lại giá trị - từ việc tách thành công ty mới những đơn vị sản xuất hiệu quả, mua lại cổ phiếu, hoặc cắt giảm chi phí chung - và đe dọa những trận chiến "proxy" nếu lời khuyên của ông không được thực hiện. Với tên tuổi của mình, một công ty có thể thấy giá tăng vọt chỉ bằng cách khiến Icahn nổi giận do cổ phiếu của công ty đang bị tụt giá. Carl Icahn tạo ra giá trị cho các cổ đông, chứ không phải là cướp đi giá trị, nhưng một cuộc gặp với Icahn có thể là đủ để loại bỏ những CEO làm việc kém hiệu quả hoặc được trả lương quá cao.

No. 2 - John D. Rockefeller

John D. Rockefeller có thể là nhân vật đáng sợ nhất trong thế giới tài chính. Ông đã từng là người giàu nhất thế giới và vẫn đứng trong top giàu có nhất trong lịch sử hiện đại. Công ty của ông, Standard Oil, kiểm soát 90% sản lượng dầu công nghiệp và bị tai tiếng do đẩy đối thủ cạnh tranh vào thế phá sản và sau đó mua lại tài sản của họ. Nhưng thứ khiến Rockefeller thực sự đáng sợ đó là niềm tin tuyệt đối vào những gì ông đang làm. Rockefeller coi cạnh tranh khốc liệt là một biện pháp tạo ra lợi nhuận cho khách hàng thì ít mà gây hại cho kinh doanh thì nhiều. Rockefeller tin rằng lợi nhuận và lợi ích lớn hơn có thể đạt được bằng sự kết hợp, được gọi là tính kinh tế theo quy mô.

Rockefeller khiến người ta nhớ vụ sử dụng tài sản khổng lồ của Standard Oil để cản trở tàu vận chuyển khiến đối thủ và khiến đối thủ rơi vào bước đường cùng và đồng ý về phe mình, nhưng ông cũng đáng được ghi nhớ với việc nhấn mạnh vào hoạt động nghiên cứu và phát triển, giảm thiểu rác thải và chuyển các khoản tiết kiệm vào cho khách hàng. Rõ ràng mục tiêu và biện pháp Rockefeller tiến hành nhằm đạt được mục tiêu không hoàn toàn tốt, nhưng Rockefeller vừa đáng ngưỡng mộ vừa đáng sợ.

No. 1 - J.P. Morgan

J.P. Morgan là một người rất giàu có. Nhưng điều mà J.P. Morgan có nhiều hơn bất kỳ tỷ phú nào khác đó là quyền lực. Trong suốt cuộc đời của Morgan, người ta nói rằng Chúa sở hữu tâm hồn của con người và J.P. Morgan sở hữu phần còn lại. Quyền lực mà Morgan nắm giữ có được vừa là do lựa chọn thời cơ đúng lúc vừa do các đặc điểm cá nhân. Morgan là thống đốc ngân hàng đầu tiên của phố Wall, những công ty bảo hiểm như General Electric và International Harvester khi nền kinh tế Mỹ bắt đầu bùng nổ. Vào thời gian đó, danh tiếng của một ngân hàng quyết định sự đắt hàng của một đợt phát hành chứ không phải là những chỉ số tài chính của công ty đó, và danh tiếng của Morgan là vàng.

Tuy nhiên, thời khắc Morgan đạt đỉnh cao quyền lực và sợ hãi là vào thời kỳ Hoảng loạn ngân hàng năm 1907. Morgan tự tay tập hợp những người chủ chốt trong tài chính và chính trị trong biệt thự của ông và tiến hành các cuộc họp kín nhằm giải quyết các cuộc khủng hoảng. Mối lo cả nền kinh tế Hoa Kỳ chỉ phụ thuộc vào một thống đốc ngân hàng đã có tuổi để tồn tại khiến chính phủ lo sợ và Cục dự trữ liên bang đã được tạo ra nhằm ngăn chặn những tình huống tương tự trong tương lai.

www.SAGA.vn l theo Investopedia

Giàu nhờ dầu, bại bởi bạc

Trong thế giới đầu có một trường hợp hy hữu giàu lên không nhờ đầu cơ mà lụi bại lại bởi đầu cơ, và hai anh em (chứ không phải bố con hay mẹ con) đều sôi sục dòng máu đầu cơ trong người. Đó là hai anh em Bunker Hunt bà Herbert Hunt mà các nhà viết sử về đầu cơ gọi là anh em nhà Hunt.

Giàu nhờ dầu

Đã có thời ở nước Mỹ, gia đình Hunt được coi ngang bằng với gia đình Rockefeller, nếu như không nói là thậm chí còn giàu có hơn. Hai dòng họ này giống nhau ở một điểm là đều giàu lên nhanh chóng nhờ dầu lửa. Cả hai đều đã tìm ra dầu lửa ở những vùng đất thuộc quyền sở hữu của họ. Cả hai đều sớm nhận ra cả giá trị kinh tế lẫn giá trị chính trị to lớn từ dầu lửa. Cả hai đều tìm mọi cách để mua về những vùng đất dự đoán là có nguồn dầu lửa ở nước Mỹ cũng như ở nước ngoài. Cả hai đều tận dụng nền công nghiệp dầu lửa để kinh doanh và độc quyền. Điều khác nhau duy nhất là, ngày nay cái tên dòng họ Rockefeller vẫn còn được gắn liền với dầu lửa, trong khi cái tên của dòng họ Hunt lại không còn gợi nhớ hay khiến liên tưởng gì đến thứ “vàng lỏng” đó nữa mà lại được coi là biểu tượng cho sự thất bại trong một phi vụ đầu cơ duy nhất.

Ngay từ đầu những năm 30 của hế kỷ trước, gia đình Hunt đã phát hiện ra mỏ dầu được coi là lớn nhất thế giới cho tới khi đó ở bang Texas. Sự thăng tiến về tiền bạc và ảnh hưởng chính trị của gia đình này ở Mỹ bắt đầu từ đó. Cái tên của gia đình này không chỉ nhanh chóng trở thành thương hiệu mà còn là biểu tượng về sự kết hợp giữa giàu có và vai vế chính trị. Người Mỹ đã so sánh gia đình này với dòng họ Kennedy vì người cha của vị tổng thống sau này của nước Mỹ khi di cư từ Ireland sang cũng chỉ gần như với hai bàn tay trắng mà gây dựng nên cơ đồ lớn.

Điều khiến hai dòng tộc này khác biệt nhau là, trong khi những người con trai của dòng họ Kennedy đi từ tiền tài đến quyền lực để thực hiện tham vọng chính trị thì hai anh em nhà Hunt lại sử dụng của cải có được để mưu cầu và theo đuổi tham vọng trở nên giàu có hơn.

Đầu những năm 60, dầu lửa lại được phát hiện trong khu vực đất đai rộng lớn mà dòng họ Hunt được quyền khai thác ở châu Phi. Vì thế, có người cho rằng, sự giàu có của dòng họ Hunt là biểu hiện của “nước chảy chỗ trũng”, có kẻ cho rằng họ đã “may hơn khôn” - dù nói thế nào thì trong đó cũng ẩn ý ngạc nhiên, khâm phục và cả đố kỵ.

Bại bởi bạc

Cho tới thời điểm đó, đầu cơ không phải là hoạt động kinh doanh của dòng họ này và cũng chẳng phải là chủ trương hay chiến lược kinh doanh của họ. Mọi chuyện chỉ thay đổi và số phận của gia đình này chuyển sang lối rẽ khác khi hai người con trai trưởng thành. Với họ, nhu cầu không phải là “không bột mà gột nên hồ” như thế hệ trước mà làm cho giàu có thêm trên nền tảng giàu có mà thế hệ trước đã gây dựng thành. Cả hai nhìn nhận ra giới hạn của sự giàu sang nhờ dầu lửa và không thể cưỡng lại được sự quyến rũ của khả năng trở nên giàu có nhanh hơn và nhiều hơn nhờ đầu cơ. Không phải họ không ý thức được những rủi ro và mạo hiểm vốn rất đặc thù trong thế giới đầu cơ. Họ quá tin vào khả năng đầu cơ của chính mình. Bởi vậy, khi sai lầm không còn có thể khắc phục được nữa thì chỉ sai lầm duy nhất ấy đã làm cho dòng họ này gần như lụi bại.

Quyết định đầu cơ của họ có liên quan đến bối cảnh kinh tế và chính trị thời đó ở nước Mỹ và trên thế giới. Đó là thập kỷ 70 của thế kỷ trước. Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam đã làm xói mòn sự tự tin của người Mỹ và nước Mỹ, khiến cho lạm phát gia tăng. Đồng thời, đó cũng là thời kỳ đồng đô la Mỹ bị mát giá nghiêm trọng, chế độ bản vị vàng sụp đổ, lòng tin vào đồng tiền bằng giấy bị sa sút nghiêm trọng. Vì ở Mỹ từ năm 1933 đã cấm tư nhân tàng trữ vàng nên hai anh em nhà Hunt quyết định đầu cơ vào bất động sản và bạc. Về sau, hai người có biện minh cho chủ trương này bằng lập luận rằng, họ làm vậy để cứu tài sản gia đình khỏi bị mất giá trị. Nhưng nếu nhìn vào những hành xử của họ khi đầu cơ vào bạc thì sẽ thấy không hẳn như vậy.

Thời đấy, giá bạc rất thấp, có 1,5 USD/ounce. Đối với hai người này thì giá ấy đã “thấp đến mức không còn có thể thấp hơn được nữa”, có nghĩa là chỉ có thể tăng trong thời gian tới. Từ năm 1970 đến 1973, hai anh em nhà Hunt mua vào 200.000 ounce bạc và đẩy giá bạc tăng lên gấp đôi. Năm 1974, anh em nhà Hunt công bố đang sở hữu 55 triệu ounce bạc, tương đương với 8% toàn bộ khối lượng bạc dự trữ trên toàn thế giới. Việc đó khiến cho các sở giao dịch chứng khoán và các cơ quan kiểm soát ngân hàng, tài chính và chứng khoán giật mình. Năm đó, giá bạc leo thang tới mức 6 USD/ounce. Lo ngại về việc dòng họ Hunt sẽ chiếm lĩnh địa vị chế ngự thị trường bạc là hoàn toàn có cơ sở.

Điều đặc biệt khiến bên ngoài lo ngại nữa là cách đầu cơ của anh em nhà Hunt. Họ không mua về và tàng trữ bạc dưới hình thức các hợp đồng mua bán theo thời hạn - như vẫn thường thấy ở các nguyên vật liệu khác - mà sử dụng trên thực tế. Mua cũng mua thật và bán cũng bán thật. Đối với họ, phương tiện thanh toán là bạc chứ không phải đồng đô la đang bị mất giá. Họ chuyển phần lớn lượng bạc mua về được sang châu Âu, chủ yếu để ở Thuỵ Sỹ vì lo ngại đến khả năng sẽ bị tịch thu nếu để ở Mỹ như đã từng xảy ra với vàng cách đó 40 năm. Chiến lược của họ là cứ mua bạc vào để độc quyền về giá cả.

Sai lầm lớn nhất và tai hại nhất của họ là không trù tính hết mức độ đối phó của các cơ quan kiểm soát và quản lý thị trường chứng khoán. Năm 1979, anh em nhà Hunt tiếp tục mua khối lượng lớn bạc và đẩy giá bạc lên tới 16 USD/ounce. Đó là giọt nước làm chảy tràn cốc. Các cơ quan quản lý thị trường chứng khoán e ngại rằng, nếu anh em nhà này cứ tiếp tục mua về như vậy và bạc bị rút khỏi thị trường để lưu trữ lại ở đâu đó thì khối lượng bạc mà các ngành công nghiệp cần cho sản xuất hàng ngày sẽ thiếu hụt nghiêm trọng. Vì vậy họ đã tiến hành biện pháp khiến nhà Hunt suýt chút nữa thì bị phá sản, đó là thay đổi quy định.

Quy định mới chỉ cho phép nhà đầu tư hoặc đầu cơ giữ tối đa 3 triệu ounce bạc, phần còn lại phải bán đi trước tháng 2/1980. Đồng thời, các nhà đầu tư và đầu cơ buộc phải tăng dự trữ tiền bắt buộc nếu giá bạc tăng. Anh em nhà Hunt đi vay tiền để tiếp tục mua bạc, đẩy giá bạc lên tới 30 USD/ounce. Cơ quan quản lý thị trường chứng khoán đối phó bằng biện pháp hạn chế số lượng hợp đồng giao dịch và rồi cuối cùng không cho phép mua vào mà chỉ chấp nhận bán ra, và thế là giá bạc bắt đầu xuống dốc. Và khi Cục Dữ trữ Liên bang nâng lãi suất chủ đạo thì cũng là lúc anh em nhà Hunt biết rằng số phận của họ đã được định đoạt. Tháng 3/1980, họ phải vay nợ 1,3 tỷ USD để thoát ra khỏi khối lượng bạc khổng lồ đã tàng trữ. Năm 1988, họ buộc phải tuyên bố phá sản.

Sai một ly đi một dặm, vậy mà anh em nhà Hunt đã sai lầm với cả một chiến lược đầu cơ. Họ đã đánh giá sai đối thủ đáng gờm nhất của bất cứ nhà đầu cơ nào là cơ quan quản lý của nhà nước. Cho tới nay, trong thế giới đầu cơ chưa có nhà đầu cơ nào đối đầu với nhà nước mà thành công.

Phỏng vấn vua phỏng vấn Larry King


Qua cuộc trò chuyện giữa Larry King và người hâm mộ, chúng ta có thể thấy được sự tinh tế và khéo léo của ông vua phỏng vấn này, cả khi đặt câu hỏi lẫn khi trả lời

Những câu chuyện dí dỏm về sự nghiệp của ông vua phỏng vấn Larry King sẽ được thể hiện qua cuộc trò chuyện giữa ông và người hâm mộ.

- Người ông muốn phóng vấn nhất mà chưa làm được?

Ông Larry King: Chắc chắn sẽ có Fidel Castro. Tôi luôn muốn được phỏng vấn một giáo hoàng, bất cư là giáo hoàng nào. Nhà văn Mỹ J.D. Salinger có lẽ là người khó gựp nhất. Tác phẩm “Bắt trẻ đồng xanh” (The Catcher In The Rye) của ông đã ảnh hưởng nhiều đến suy nghĩ của tôi. Tôi sẽ hỏi ông ấy: “Tại sao ông không viết tiếp? Có phải là ông đã cạn kiệt cảm xúc sau 4 cuốn sách?”. Những câu hói nó luôn dày vò tôi.

- Điều gì đã giúp ông tồn tại lâu trong cái nghề này?

Ông Larry King: Điều này không thể giải thích được. Tôi không muốn làm việc khác ngoài nghề phát thanh viên. Tôi đã nói luôn miệng từ lúc lên 5 tuổi. Tôi muốn nói trên sóng phát thanh. Tôi muốn xuất hiện trên truyền hình. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ được mọi người trên thế giới thấy mặt. Suýt nữa tôi đã đặt tên cho cuốn tự truyện của mình là “Tôi làm gì ở đây thế này?”.

- Ông có nhất trí với ý kiến cho ông, ông chỉ hỏi những câu hỏi dễ không?

Ông Larry King: Không nhất trí. Tôi không ngồi ở đó để làm khó người khác. Nếu tôi bắt đầu một cuộc phỏng vấn Nancy Pelosi (Chủ tịch Hạ viện My) bằng câu: “Tại sao bà lại nói dối về vụ tra tấn tù nhân?”, thì tôi sẽ không thể nào được biết những sự thật khác. Dồn người khác vào chân tường thì sẽ làm cho tôi có vẻ đắc ý. Lúc đó, họ sẽ làm “nền” cho tôi. Nhưng tôi không muốn khách mời trở thành nền cho mình.

- Ông có quan ngại về tính phổ biến của các chương tin tức bị xem là mang tính tuyên truyền không?

Ông Larry King: Tôi không quan tâm lắm, vì mọi chương trình đều mang tính chu kỳ. Hy vọng là chương trình phỏng vấn thẳng thắn, gợi lên nhiều suy nghĩ sâu sắc luôn luôn được phát sóng. Từ lâu tôi đã học được điều này: Tôi sẽ chẳng học được điều gì nếu cứ nói luôn miệng. Lúc đó người dẫn chương trình sẽ nói đến 90% thời gian, chỉ chừa 10% cho khách mời. Tôi không thể chấp nhận điều đó.

Cuộc phỏng vấn nào khiến ông ngạc nhiên nhất?

Ông Larry King: Đó là cuộc phỏng vấn G. Gordon Liddy (điệp viên thời Tổng thống Mỹ Nixon trong vụ bê bối chính trị Watergate. Tôi không thích đưa ra các đánh giá vội vã, nhưng ấn tượng ban đầu của tôi đối với ông ta là không mấy thiện cảm. Nhưng rồi tôi phải thực sự thích ông ta. Ông ta là người lập dị, nhưng mà lập dị cũng có cái hay của nó. Tôi thích kiểu đam mê của ông ta. Tôi khoái kiểu ông ta hài hước. Ông ta là một nhân vật thực sự đáng chú ý và vì thế là đối tượng tuyệt vời cho một cuộc phỏng vấn.

- Ông đã chịu áp như thế nào khi đưa những vị khách đình đám trên báo chí lá cải lên truyền hình?

Ông Larry King: Tôi không biết rằng tôi phải chịu áp lực đó, bởi tôi không chọn khách mời. Khi ánh đèn bật lên, tôi phải làm công việc của mình. Nếu tôi có phải bàn luận chuyện đứa trẻ mất tích hay một ngôi sao sắc đẹp vừa mới ly dị chồng, thì đó cũng chỉ là tính chất của công việc. Tôi chưa bao giờ từ chối một chương trình nào.

Ông có bao nhiêu cá quần dây đeo?

Ông Larry King: Tôi chưa đếm. Có bộ ở New York, bộ ở Washington và dĩ nhiên ở nhà tôi (tại Los Angeles) – chừng 150 bộ. Nhưng không nhất thiết là quần dây đeo. Mỗi chiếc quần tôi mua, jean hay loại khác, tôi đều cho đục lỗ để đeo dây.

Ông sẽ xử lý thế nào với vị khách mà ông không thích?

Ông Larry King: Ồ, tôi là một người dẫn chương trình chuyên nghiệp và công việc của tôi là dẫn chương trình. Quan điểm cá nhân của tôi không quan trọng. Điều quan trọng duy nhất là khách mời.

- Cuộc phỏng vấn nào làm ông thấy bực mình nhất?

Ông Larry King: Robert Mitchum, một trong những diễn viên mà tôi hâm mộ, từng khiến cho tôi phải phát khùng lên. Mỗi câu hỏi của tôi đều được anh ta trả lời bằng một từ cụt lủn. “Đúng, sai. Có thể, không chắc” . Tôi chẳng thể nào đọc được ý nghĩ của anh ta. Tình hình trở nên quá tệ đến nỗi tôi phải kết thúc cuộc phỏng vấn bằng câu hỏi anh ta ăn gì trong bữa tối. Và khi nói xong, anh ta hỏi lại: “Tôi trả lời trông thế nào?”

Cuộc sống “hậu Larry King” sẽ như thế nào?

Ông Larry King: Giống như diễn viên Milton Berle từng nói: “Nghỉ hưu à? Nghỉ cái gì?”, tôi không nghĩ tới chuyện nghỉ hưu. Tôi không phải là người có khả năng ăn không ngồi rồi. Nếu đó là một định luật, thì định luật đó không phù hợp với tôi.


Ông Larry King

Tên thật là Lawrence Harvey Ziegler, sinh ngày 19 /11/ 1933 tại Brooklyn; New York, Mỹ. Lúc nhỏ, Larry King từng tuyên bố với bố mẹ: “Con chỉ làm người dẫn chương trình và sẽ là người dẫn chương trình nổi tiếng thế giới”.

1982 và 1992: Giải George Foster Peabody dành cho người xuất sắc trong chương trình phát thanh - truyền hình.

1996: Giải thương Golden Plate cho những cống hiến của ông trong ngành công nghiệp truyền thông đại chúng do Viện Hàn lâm Mỹ trao tặng.

George Soros: Thiên tài hay tội nhân?

Trong thế giới đầu cơ có một cư dân kiếm được nhiều tiền và rất nhanh nhờ đầu cơ, lại không hề giấu diếm bí quyết đầu cơ và dùng rất nhiều tiền có được từ đầu cơ để làm chính trị. Cư dân này tự tin đến mức dám tuyên bố công khai rằng: “Tôi có thể làm thay đổi thế giới” - người đó là George Soros.

George Soros là một trong những nhà đầu cơ có được nhiều biệt danh phụ nhất, thậm chí còn được coi là “nguyên thủ quốc gia không có quốc gia”. Về mọi phương diện, con người này đều có những cá tính rất riêng.

Soros2.jpg

Là người Do Thái, sinh năm 1930 ở Hungari, George Soros di cư sang Tây Âu năm 1946 và năm 1947 sang Anh, theo học Trường Đại học Khoa học chính trị và kinh tế London cho tới năm 1952 và sang Mỹ định cư từ năm 1956. Mấy dòng tiểu sử đơn giản ấy đủ để cho thấy hai nét đặc thù nhất xuyên suốt cả cuộc đời của nhà đầu cơ này là hoạt động kinh tế và chính trị, cụ thể hơn nữa là đầu cơ và dùng tiền có được từ đầu cơ để hậu thuẫn phe đối lập ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây cũng như tài trợ cho các hoạt động chính trị theo hướng xây dựng “xã hội mở” ở rất nhiều quốc gia khác trên thế giới sau này.

Chỉ qua một đêm trở thành huyền thoại

Mười hai năm đầu tiên ở nước Mỹ là thời kỳ học việc của George Soros, là thời kỳ Soros để tâm nghiên cứu kinh tế và theo dõi biến động thị trường để tìm ra những khe hở có thể lợi dụng được. Không có nhiều vốn liếng, Soros biết rằng không thể làm ăn lớn ngay được, không thể kiếm tiền nhanh ngay được, lại càng không thể có chuyện đầu tư lâu dài, cho dù đó là đầu tư vào công nghiệp hay dịch vụ, bất động sản hay chứng khoán. Đầu cơ không chỉ có sức lôi kéo quyến rũ. Soros đủ tri thức để hiểu rằng, muốn thành công thì cũng phải biết cách đầu cơ. Giải pháp của Soros rất đơn giản: Không có vốn thì phải sử dụng vốn của kẻ khác, muốn kiếm tiền nhanh thì phải trốn thuế và phải liên danh với đối tác để giảm bớt rủi ro.

Cơ hội đến với George Soros năm 1968 khi ông gặp Jim Rogers. Công bằng mà nói thì gặp George Soros cũng là cơ hội đối với Jim Rogers. Cuộc hội ngộ này, không biết do tình cờ hay là chủ ý của số phận, đã mở đường cho cả hai về sau đều nổi danh trong thế giới đầu cơ. Cả hai thành lập ra cái gọi là Quỹ bảo lãnh đầu tư Quantum Funds để huy động vốn của kẻ khác và sử dụng số vốn đó để đầu tư, trả cho người góp vốn hoặc là lãi suất, hoặc là lợi tức từ các phi vụ đầu tư. Quỹ này được đăng ký tại Curacao, một hòn đảo ở ngoài khơi Venezuela, nơi được coi là một trong những thiên đường thuế thời đó mà các cơ quan kiểm soát tài chính và chứng khoán Mỹ không với tới được. Trong kinh doanh chứng khoán, việc sử dụng thông tin của người trong cuộc bị xử phạt rất nặng vì nó thường đem lại lợi nhuận rất lớn. Soros và Rogers đã xây dựng mạng lưới thông tin riêng để thu lượm và khai thác triệt để nguồn thông tin này. Cả hai giàu lên nhờ đầu cơ trên cơ sở ấy. Về sau, có người nói họ may mắn, nhưng cũng có kẻ đổ cho sự yếu kém của bộ máy quản lý và kiểm soát thị trường chứng khoán mà cả hai đều không bị phát hiện. Nhưng thời kỳ Soros và Rogers đường ai nấy đi mới là thời kỳ huy hoàng nhất của Soros.

Phi vụ đầu cơ nổi tiếng đầu tiên của Soros được thực hiện vào năm 1988. Ngày ấy, Soros vận hành liên hoàn giữa mua và bán cổ phiếu của ngân hàng Societe Generale, một ngân hàng lớn của Pháp, và kiếm được 2,2 triệu USD. Mãi đến năm 2006, một tòa án ở Pháp mới kết tội Soros sử dụng thông tin của người trong cuộc ở vụ đầu cơ này và đòi Soros phải hoàn trả tất cả lợi nhuận. Soros kháng án lên tận Tòa án Nhân quyền của châu Âu. Một phán xử như vậy vào năm 1988 đủ để hủy hoại toàn bộ sự nghiệp đầu cơ của Soros, nhưng lại chẳng làm được gì nhà đầu cơ này vào thời điểm năm 2006.

Soros.GIF

Nhưng nổi tiếng nhất là vụ đầu cơ đồng Bảng Anh mà lịch sử đầu cơ thế giới cũng như lịch sử tài chính thế giới gọi là “Ngày thứ Tư đen tối” - ngày 16/9/1992. Ngày ấy, Soros cho rằng đồng Bảng Anh được giữ ở tỷ giá quá cao và sẽ không thể trụ lại lâu ở mức độ đó. Soros dùng tất cả vốn liếng của mình và vay mượn bằng đồng Bảng Anh với hết khả năng của mình để bỏ ra mua về đồng Deutsche Mark và USD, khuấy động hẳn một làn sóng đầu cơ nhằm vào đồng Bảng Anh, đến mức khiến Ngân hàng Anh buộc phải phá giá đồng Bảng Anh và nước Anh buộc phải ra khỏi Hệ thống Tiền tệ châu Âu, còn Ngân hàng Anh thì phải trải qua quá trình cải tổ. Khi đồng Bảng Anh bị phá giá, Soros bỏ ngoại tệ kia ra mua lại Bảng Anh - đương nhiên với giá thấp hơn, thanh toán công nợ và thu về 1 tỷ USD chỉ sau có một đêm. Vụ đầu cơ này giúp Soros trở thành huyền thoại sống trong thế giới đầu cơ.

Năm 1993, mục tiêu tấn công của Soros là đồng Deutsche Mark của Đức, năm 1998 là đồng Rúp của Nga và năm 1999 là đồng Euro. Thời điểm 1997 - 1998, Soros nhằm vào đồng Baht của Thái Lan và vì thế bị coi là người đã gây ra cuộc khủng hoảng tiền tệ ở châu Á. Thủ tướng Malaysia Mahathir thời đó đã công khai đổ trách nhiệm cho Soros, cho dù chẳng ai có thể chứng minh được rõ ràng và Soros bác bỏ hoàn toàn mọi trách nhiệm. Dù thế nào thì chúng cũng giúp Soros càng thêm nổi tiếng và được nể vì. Năm 2007, Soros trù đoán là kinh tế Mỹ còn suy thoái và nhận ra cơ hội đầu cơ tuyệt vời sau nhiều năm giải nghệ. Kết quả là chỉ một năm sau, Soros thu về được hơn 1 tỷ USD. Việc hậu thuẫn tài chính cho những lực lượng đối lập ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây được coi là phi vụ đầu cơ chính trị đáng kể nhất của Soros và giúp Soros có được ảnh hưởng không nhỏ ở các quốc gia Đông Âu sau chiến tranh lạnh.

Công khai bí quyết


George Soros là một trong số rất ít nhà đầu cơ dám công khai bí quyết đầu cơ của mình. Qua những sách, bài viết, tham luận và trả lời phỏng vấn, người ta đã tổng kết nên 24 bí quyết đầu cơ thành công của Soros, trong đó nổi bật nhất là bí quyết “dám liều, nhưng liều có mức độ và thận trọng cao nhất có thể”. Nghe thì thấy rất dễ và không ai có thể phản bác được, nhưng thực hiện cụ thể mới là cái khó. Soros thực hiện đầu cơ rất thành công bởi nhà đầu cơ này rất am hiểu thị trường, am hiểu đến mức có thể đoán biết được trước phần nào diễn biến của thị trường trong thời gian tới. “Tôi hiểu thị trường tốt hơn những người khác. Vì thế tôi kiếm được tiền. Vì thế tôi nhận biết được những lỗi của thị trường”, Soros vẫn thường nói như vậy mà không hề cho rằng mình đã quá tự tin hay tự cao tự đại.

Soros chuyên đầu cơ tiền tệ và vì thị trường tiền tệ chịu tác động rất lớn bởi chính sách của các chính phủ và các ngân hàng trung ương quốc gia nên Soros luôn đặt hoạt động đầu cơ của mình trong mối liên hệ với các diễn biến trên chính trường. Những dự đoán của Soros làm cơ sở cho quyết định đầu cơ được dựa trên cơ sở ấy và triết lý đầu cơ của Soros cũng được đặt trên cơ sở ấy: dùng đầu cơ để tác động tới chính sách khiến chính sách buộc phải được điều chỉnh sao cho có lợi nhất cho hoạt động đầu cơ. Không phải lần nào Soros cũng thành công với chiến lược đầu cơ này, nhưng cho tới nay Soros vẫn luôn thắng ở những trận cần phải thắng nhất và đáng phải thắng nhất.

Đương nhiên, nhà đầu cơ trứ danh nào chẳng có tố chất năng khiếu đầu cơ bẩm sinh. Năng khiếu ấy cùng với tri thức và kinh nghiệm có được theo thời gian và ở thời khắc quyết định được xúc tác bằng tính liều lĩnh có tính toán chính là những thứ đã giúp Soros trở thành nhân vật có một không hai trong thế giới đầu cơ. Chứ còn những hoạt động chính trị của Soros chẳng phải là chuyện hiếm ở các cư dân của thế giới đầu cơ.
(theo SAGA)

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2010

Nhạc Baroque - Giúp kích thích não bộ hoạt động tốt hơn

Tiến sĩ Georgi Lozanov, nhà tâm lý học nổi tiếng người Bulgaria, từng thực hiện một nghiên cứu trong đó ông cho những tình nguyện viên vừa học ngoại ngữ vừa nghe thể loại nhạc Baroque (nhạc Baroque là thể loại nhạc cổ điển thịnh hành vào thế kỷ 17-18 với các nhạc sĩ lỗi lạc như Bach, Vivaldi, …) với nhịp điệu 60 nhịp một phút. Sau một ngày học ngoại ngữ, những học sinh này sẽ trải qua một bài kiểm tra. Kết quả cho thấy cho thấy chỉ trong một ngày các đối tượng nghiên cứu có thể học số lượng từ đến 1000 từ mà bình thường phải mất một học kỳ mới học được. Hơn thế nữa, những học sinh trên có thể nhớ đến 92% những gì đã được học. Chỉ bằng việc lắng nghe nhạc Baroque khi đang học, thời lượng cần thiết để thông thạo một ngoại ngữ được giảm từ 2 năm xuống 30 ngày. Và những sinh viên tham gia nghiên cứu trên có khả năng nhớ những từ mình đã học thậm chí sau 4 năm mà không cần ôn tập.Những tập đoàn khổng lồ như IBM và Shell, cùng với một loạt các trường trung học và đại học nổi tiếng, đã và đang sử dụng âm nhạc để giảm thời lượng học và tăng cường khả năng truy xuất thông tin. Việc nghe nhạc còn làm tăng khả năng và năng suất làm việc một cách đáng kể. Nghiên cứu cũng cho thấy nghe nhạc Mozart và những bản nhạc Baroque giúp sinh viên cảm thấy bình tĩnh, tập trung hơn, và tăng cường khả năng trí tuệ.Nhạc Baroque có những tác dụng cụ thể nào về mặt sinh lý học? Khi chúng ta lắng nghe theo nhịp điệu đều đặn của thể loại nhạc này, 60 nhịp một phút, nhịp tim, huyết áp và sóng não đều thư giãn theo điệu nhạc. Nhịp tim chậm lại, huyết áp giảm đi, sóng não beta giảm 6% trong khi sóng não alpha (thích hợp cho học tập và trí nhớ) tăng 6%. Âm nhạc giúp bạn đi vào trạng thái thư giãn nhưng tỉnh táo (relaxed alertness) – trạng thái tối ưu cho học tập và làm việc.Sau đây là những liệt kê những bản nhạc có tác dụng hỗ trợ, kích thích việc học tập, nghiên cứu và làm việc. Bạn hãy khởi đầu buổi học bằng việc (1) thư giãn cả về mặt thể chất lẫn tinh thần, (2) lắng nghe những bản nhạc này với âm lượng vừa phải, phù hợp với chính bạn.Nghe những thể loại nhạc thích hợp sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích khác nhau. Sau đây là một số tác dụng tích cực mà âm nhạc đem đến và đã được nhiều nghiên cứu khoa học chứng minh:- tăng trí nhớ- tăng sự tập trung- giúp bạn sáng tạo hơn- giảm stress- tăng chỉ số thông minh IQ- giúp cơ thể mau hồi phục- giúp học sinh giỏi ghi điểm cao hơn trong các kỳ thi- kích thích cả hai bán cầu não (não trái và não phải) khi học tậpList 1 vài tác giả Baroque và tác phẩm :1. J.S. BACH- Suite 3 (Air on a G String)- Concerto for Oboe in D Minor op-9- Concerto in D Minor for 2 violins- Fantasy in G Major, Fantasy in C Minor and Trio in D Minor, Canonic Variations and Toccata- Prelude in G Major2. VIVALDI- Four Seasons, Spring, Largo- Concerto in C Major for Piccolo- Flute Concerto no. 3 in D Major- Five Concertos for Flute and Chamber Oschestra3. PACHELBEL- Canon in D Major- Canon from Canon and Gigue4. MOZART- Concerto no. 21 in C Major, K.467- Clarinet Concerto in A Major- Concerto for Violin and Orchestra- Concerto no. 7 in D Major- Symphony in D Major (Haffner)- Symphony in D Major (Prague)- Concerto for Violin and Orchestra in A Major no.5- Symphony in A Major no. 29- Symphony in G Minor no. 405. BEETHOVEN- Piano Concerto no. 5 in E-flat- Symphony no. 6 (Pastorale)- Concerto for Violin and Orchestra in D Major, op. 61- Concerto no. 5 in E-flat Major for Piano and Oschestra, op. 73 (Emperor)- Concerto no. 5 in E-flat Major for Piano and Orchestra no.5 in B-flat Major6. SCHUBERT- Octet in F Major, D. 8037. TCHAIKOVSKY- Concerto no. 1 in B-flat Minor for Piano and Orchestra(theo Accelerated Learning, tác giả Colin Rose)

Thứ Hai, 4 tháng 1, 2010

Thứ Tư, 23 tháng 12, 2009

Cảnh sát mẫn cán

Trong số đối tượng chịu phạt của những cảnh sát mẫn cán có tài xế xe đạp, máy bay hay cả... đĩa bay. Những hình ảnh hài hước về cảnh sát trên khắp thế giới.
> Ảnh vui quảng cáo

Những cảnh sát mẫn cán lập biên bản chủ những chiếc xe đạp phạm luật...
...dán vé phạt lên trực thăng đỗ sai quy định...
...huy động cả tiểu đội để tóm gọn chú nhóc đang mếu máo...
...đĩa bay đỗ sai quy định cũng không tha.
Phá nát cả cánh đồng để truy đuổi tội phạm.
"Giảm tốc độ! Cảnh sát nấp sau tấm biển này".

Trần Lê (Theo FunnyFree)